Tưởng nhớ cố nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm

0
241

Dũng Thanh Lâm là một nghệ sĩ có thực tài, thinh sắc vẹn toàn nhưng anh không gặp thời, phải lận đận lao đao trên đường sự nghiệp.

Hai dòng máu Việt – Pháp

Cố nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm mất tại Orange County, lúc 01 giờ 15 trưa ngày 26 tháng 11 năm 2004 vì bịnh gan tái phát. Dũng Thanh Lâm là người nghệ sĩ đầu tiên được an táng tại nghĩa trang Peek Family của doanh gia Trần Vũ dành cho các nghệ sĩ của Hội Ái Hữu Tương Tế Hải Ngoại.

Nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm tên thật là Paul Robert Bùi Văn Tâm (mang hai dòng máu Việt – Pháp), sanh năm 1942 ( tuổi Nhâm Ngọ) tại xã Linh Đông, quận Thủ Đức tỉnh Gia Định, là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, có tên thánh là Francisco.

Dũng Thanh Lâm học ở trường dòng Tabert Mossard ở Thủ Đức cho đến hết lớp 5, rồi được chuyễn về học ở trường Trung Học Tân Thanh ở Saigon.

Dũng Thanh Lâm mê cải lương từ nhỏ nên anh theo một người bạn để học đờn ca tài tử, anh có chất giọng tốt nên dễ thành công trong việc học ca vọng cổ và các bài bản cổ nhạc. Sau đó, anh được hai vợ chồng nghệ sĩ Hoàng Sương và Thu Vân dìu dắt vào học hát trong một đoàn hát cải lương ở tỉnh với nghệ danh là Minh Hùng. Hoàng Sương và Thu Vân chính là song thân của cô Thu Hồng, một nữ nghệ sị hữu danh hiện nay ở quận Cam Hoa Kỳ.

Bước đường nghệ thuật

Năm 1964, ông Bầu Ba Bản ký hợp đồng mời Minh Hùng về hát cho đoàn cải lương Thủ Đô và ông Bầu Ba Bản đổi nghệ danh của Minh Hùng thành ra nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm, tên dùng ba chữ chớ không hai chữ như tên của các nghệ sĩ thế hệ đàn anh với dụng ý là bảng hiệu đoàn cải lương Thủ Đô sẽ giới thiệu với khán giả một thế hệ nghệ sĩ trẻ thuộc đợt sóng mới.

Đây là một cơ hội tốt cho Dũng Thanh Lâm vì hai nghệ sĩ cột trụ của đoàn cải lương Thủ Đô là Út Trà Ôn và Hoàng Giang rời đoàn Thủ Đô để ra thành lập gánh hát Thống Nhứt., nên ông Bầu Ba Bản mời nghệ sĩ Tấn Tài và Dũng Thanh Lâm về thế vai của Út Trà Ôn và tăng cường thực lực đào kép bằng một dàn diễn viên trẻ.

Vở tuồng đầu tiên của Dũng Thanh Lâm hát trên sân khấu đoàn cải lương Thủ Đô là vở ” Bóng Hồng Sa Mạc” của hai soạn giả Loan Thảo và Hoàng Việt, cùng thủ diễn có các nghệ sĩ Minh Phụng, Tấn Tài, Trương Ánh Loan, Kim Ngọc, Văn Hường.

Trên sân khấu đoàn hát Thủ Đô, Dũng Thanh Lâm còn hát thêm các tuồng: Chiếc Áo Ân Tình, Sầu Quan Ải, Hoa Đào Trên Kiếm Thép, Cây Quạt Lụa Hồng.

Cuối năm 1964, đoàn hát Thủ Đô Ba Bản rã gánh, nghệ sĩ Tấn Tài mua lại xác gánh hát Thủ Đô, cùng với vợ là nữ nghệ sĩ Như Ngọc lập ra gánh hát Thủ Đô – Tấn Tài. Dũng Thanh Lâm và nữ nghệ sĩ Trương Ánh Loan gia nhập đoàn hát Kim Chưởng – Thanh Hương của bà Bầu kiêm nghệ sĩ Kim Chưởng.

Ở đoàn cải lương Kim Chưởng, Dũng Thanh Lâm được hát vai kép chánh, đóng tuồng cặp với nữ nghệ sĩ Phượng Liên. Dưới bàn tay đào luyện của nữ nghệ sĩ bậc thầy Kim Chưởng, Dũng Thanh Lâm và Phượng Liên là đôi nghệ sĩ “Thinh, Sắc Lưởng Toàn”, đã chinh phục được cảm tình của đông đảo khán giả. Dũng Thanh Lâm nỗi tiếng là một kiếm sĩ đẹp trai trong các tuồng Quỷ Bão, Người Gọi Đò Trên Sông của soạn giả Mộc Linh và vở Thượng Phương Bảo Kiếm của soạn giả Viễn Hùng.

Năm 1967, nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm về cộng tác với đoàn cải lương Dạ Lý Hương của ông Bầu Xuân. Vở hát đầu tiên của Dũng Thanh Lâm trên sân khấu Dạ Lý Hương là vở Kẻ Sợ Tình của soạn giả Nguyễn Phương và Thiếu Linh, hát chung với Hùng Cường, Bạch Tuyết, Hữu Phước, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm và Kim Ngọc. Hề có Thanh Việt , Tư Rọm và Văn Chung.

Nghệ thuật ca diễn

Về nghệ thuật ca diễn, Dũng Thanh Lâm có một làn hơi ca tươi mát, êm dịu như lối ca của nghệ sĩ Hữu Phước nhưng hơi kém hơn Hữu Phước về nghệ thuật sắp chữ ca, về cách nhồi chữ, cách luyến láy, cách chuốt mõng lời ca.

Bù lại sự thiếu sót đó, nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm đẹp trai, phong cách diễn xuất mang dáng dấp của những người trong tầng lớp cao sang quyền quý, vì vậy Dũng Thanh Lâm được rất nhiều nữ khán giả ái mộ. Thời gian hát ở đoàn cải lương Dạ Lý Hương, Dũng Thanh Lâm nỗi tiếng trong các tuồng Anh Hùng Xạ Điêu, Tiền Rừng Bạc Biển, Lệnh Của Bà, Người Dừng Chân Đêm Mưa, Vạn Lý Trường Thành, Con Ma Nhà Họ Hứa, Gái Điếm Vợ Hiền, Đời Là Một Chữ T. . .

Năm 1969 – 1970, Dũng Thanh Lâm gia nhập đoàn hát Hùng Cường – Bạch Tuyết, hát các vở Trăng Thề Vườn Thúy, Tuổi Hồng Cho Em, Cánh Hoa Chùm Gởi. Sau đó Dũng Thanh Lâm về hát cho đoàn hát Tiếng Hát Dân Tộc của bà Bầu Tiêu Thị Mai.

Sau tháng 4 năm 1975, Dũng Thanh Lâm có quốc tịch Pháp nên anh đăng ký hồi hương trở về Pháp. Đến năm 1977, Dũng Thanh Lâm về Pháp, được định cư ở Marseilles. Dũng Thanh Lâm và các nghệ sĩ cải lương cư ngụ tại Paris như Hữu Phước, Hương Lan, Chí Tâm, Hương Thanh, Hoàng Long, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Hà Mỹ Liên, Phương Thanh, Thành Được . .. diễn lại các vở tuồng cải lương cũ trước năm 1975 như Mưa Rừng, Đôi Mắt Người Xưa, Đi Biển Một Mình, Cho Trọn Cuộc Tình. . .

Sau đó Dũng Thanh Lâm và Chí Tâm di cư qua Hoa Kỳ, đến ở quận Cam, Dũng Thanh Lâm gặp lại nhiều bạn như Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Thành Được, Phượng Liên, Ngọc Đan Thanh, Chí Tâm, Linh Tuấn, Hương Huyền, Thanh Huyền và các nhạc sĩ cổ nhạc Văn Hoàng, Minh Phụng, Bích Thuận, Hoàng Nam. Dũng Thanh Lâm như cá kình được trở về biển khơi, anh có môi trường thuận tiện để sinh sống bằng nghề ca hát của mình.

Dũng Thanh Lâm vẫn giữ được làn hơi truyền cảm, giọng ca và kỹ thuật ca điêu luyện nên thường hát đóng vai kép chánh cùng với đào mùi Phượng Liên, hợp thành một cặp đào kép thinh sắc lưỡng toàn.

Dũng Thanh Lâm và Phượng Liên rất thành công trong việc thực hiện CD tuồng cải lương: Khi Người Điên Biết Yêu nhân dịp Phượng Liên làm lễ kỷ niệm 40 năm sân khấu.

Lâm trọng bịnh

Về bịnh gan của Dũng Thanh Lâm. . . tôi còn nhớ ngày 7 tháng 7 năm 2001, tôi có đến quận Cam dự lễ sinh nhật 80 tuổi và 60 năm sân khấu của anh Việt Hùng, tôi gặp Dũng Thanh Lâm và được biết là mới ba tháng trước đây, anh phải chịu một ca phẩu thuật ghép gan, thay lá gan hư của anh bằng lá gan của một em bé trai 11 tuổi tại bệnh viện UCI. Vừa bình phục, Dũng Thanh Lâm xuất hiện trên sân khấu Restaurant Paracell, ca chúc mừng Việt Hùng 80 tuổi với bài vọng cổ tựa là

Trên Đường Lưu Diễn để cùng với Việt Hùng và các bạn cải lương hồi tưởng lại những chặn đường lưu diễn của gánh hát cải lương ở Việt Nam ngày trước. Dũng Thanh Lâm ca xong, có lẽ anh cảm giác là sức khỏe của anh khó mà hồi phục như xưa, anh chấm dứt bài ca bằng một ước muốn là làm sao mà anh có thể sống được như anh Việt Hùng đến 80 tuổi.

Nhưng ước muốn đó khó thành đạt vì hai năm sau Dũng Thanh Lâm phải thay gan một lần nữa (2002), và năm 2004, anh không thể thay gan được nữa mà phải rời bỏ bạn bè và khán giả thân thương để về cõi vĩnh hằng.

Dũng Thanh Lâm trong cuộc sống nghệ thuật, anh là một người biết tôn sư trọng đạo, sống có tình có nghĩa với các bạn đồng nghiệp trang lứa và lúc nào anh cũng sẳn sàng góp phần làm việc từ thiện mỗi khi có tổ chức hát hội, lạc quyên giúp đở đồng bào các nơi bị thiên tai bão lụt.

Dũng Thanh Lâm là một nghệ sĩ có thực tài, thinh sắc vẹn toàn nhưng anh không gặp thời, phải lận đận lao đao trên đường sự nghiệp. Khi mà Dũng Thanh Lâm tìm lại được phong độ ngày huy hoàng cũ thì anh lâm trọng bịnh và mất đi trong niềm thương tiếc của gia đình, của bạn bè đồng nghiệp và của cả vạn khán giả ái mộ Dũng Thanh Lâm.

“Hoa hậu cải lương” Mộng Tuyền hồng nhan đa truân, tìm tình nơi viễn xứ

Mộng Tuyền được coi là “Tứ đại mỹ nhân của đất Sài thành” xưa. Tài năng, sắc đẹp đều hội tụ đủ ở người con gái ấy. Thế nhưng, cũng vì chữ tài, chữ sắc mà cuộc đời Mộng Tuyền phải trải qua những đoạn trường.

Thế nên, ở tuổi U60, bà dường như vẫn chưa trả hết nợ đời. Trải qua 3 cuộc bể dâu, ở khúc cuối của cuộc đời, người đàn bà hương sắc một thời vẫn đau đáu nỗi niềm riêng.
Độn ngực đi giày cao gót để lên sân khấu

Sinh năm 1947 tại Cần Thơ, Kim Loan (tên thật của nghệ sĩ Mộng Tuyền) tham gia ca hát từ khi còn là một cô bé, tính đến nay bà đã có hơn 50 năm ăn cơm nghệ thuật.

Sinh ra trong một gia đình nghèo lại đông con nên ngay từ nhỏ, Kim Loan đã phải chịu nhiều vất vả. Cuộc sống khốn khó cũng chính là lý do đưa bà đến với nghệ thuật. Những ngày ấy, việc đi theo các gánh hát chỉ đơn giản là có được bữa ăn, bớt đi gánh nặng cho gia đình và phần nào giúp cha mẹ nuôi các em.

Năm 11 tuổi, Kim Loan bắt đầu rong ruổi khắp các nẻo đường với thầy nhạc Ba Cứ để vừa học nghề vừa đi hát kiếm tiền giúp đỡ gia đình. Thuở ấy, cô bé Kim Loan coi việc đi hát giống như niềm vui, hát với tâm hồn trong sáng, hiền lành, mỗi vai diễn, lời ca đều được thể hiện rất hồn nhiên. Thế nên, ở những ngày đầu, hình ảnh Kim Loan trong tâm trí của nhiều người là một cô bé ngây thơ, thường bị các bạn nữ đồng trang lứa ăn hiếp và chỉ biết khóc.

Năm 1961, bà chính thức bước chân vào nghề hát và đầu quân cho đoàn Hoa Sen của ông bầu Bẩy Cao. Khi ấy Kim Loan bước vào tuổi 13. Bà kể rằng, vì vóc dáng nhỏ bé nên để phù hợp với vai diễn, cô đào chánh phải độn ngực, mang giày cao gót để ra dáng thiếu nữ. Thời đó, khán giả khắp vùng Nam Kỳ phát cuồng cô đào chánh có gương mặt hồn nhiên, giọng ca giàu cảm xúc.

Năm 1963, được sự dẫn lối của soạn giả Nguyễn Phương, bà bầu Thơ đã mời Kim Loan về đoàn Thanh Minh – Thanh Nga diễn chung với Thanh Nga, Ngọc Giàu, Bích Sơn… Khi ấy đoàn Thanh Minh – Thanh Nga là môi trường vô cùng khắc nghiệt, Kim Loan phải cạnh tranh với một Thanh Nga tài sắc và một Ngọc Giàu hát hay, diễn giỏi. Tuy nhiên, cũng chính môi trường khắc nghiệt này đã giúp cô bé Kim Loan được rèn giũa cả về ca lẫn diễn tạo tiền đề quan trọng để trở thành ngôi sao tài sắc lưỡng toàn sau này.

“Hoa hậu cải lương” Mộng Tuyền hồng nhan đa truân, tìm tình nơi viễn xứVẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Mộng Tuyền khi còn son trẻ.

Bước ngoặt sự nghiệp của Kim Loan đến khi được chọn thay thế Ngọc Giàu đảm nhận vai vũ nữ Thu Lan trong vở Phu tử tòng tử. Thu Lan chính là vai diễn bản lề giúp Kim Loan bước vào con đường thênh thang. Khi ấy, Kim Loan mới chỉ là cô bé 15 tuổi và để hóa thân thành một vũ nữ cha của bà đã phải đưa con gái đến các quán bar để xem cách ăn nói, đi đứng, hút thuốc, uống rượu… của các cô vũ nữ. Bà đã quan sát và “học” tất cả để khi lên sân khấu mỗi bước đi, mỗi cái phẩy tay, cách nốc rượu… đều đúng kiểu của vũ nữ thứ thiệt. Nhờ vai diễn xuất sắc này mà Kim Loan được trao giải Thanh Tâm.

“Tứ đại mỹ nhân” của làng điện ảnh

Cùng với nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga, Kiều Chinh… Mộng Tuyền được xem là đại diện của “nhan sắc Sài thành”. Vẻ đẹp trong sáng, thơ ngây của Mộng Tuyền được người ta ví như một làn gió mới tươi mát, như con suối nhỏ nên thơ. Khi ngắm Mộng Tuyền người ta nghĩ đến viên kẹo ngọt mềm mại và ai cũng muốn chiếm hữu.

Nói về Mộng Tuyền, soạn giả Nguyễn Phương, người đã góp phần đưa Mộng Tuyền tỏa sáng đã dành cho bà nhiều mỹ từ. Với ông, Mộng Tuyền là một nữ nghệ sĩ tài sắc, đẹp một cách tự nhiên. Với phong cách dịu hiền của người phụ nữ miền sông nước Hậu Giang, Mộng Tuyền chẳng những chinh phục được sự ái mộ nồng nhiệt của khán giả bốn phương, mà còn nhận được thương yêu chân tình của các thế hệ nghệ sĩ đứng chung trên sân khấu.

Sau khi thành danh ở sân khấu cải lương, cuối năm 1966, Kim Loan bắt đầu lấn sân nghệ thuật thứ 7. Đây cũng là thời điểm bà đổi nghệ danh từ Kim Loan sang Mộng Tuyền. Nói về việc đổi nghệ danh sau khi đã có được dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng, nghệ sĩ Mộng Tuyền tâm sự, bà không hề muốn đổi, nhưng sau cuộc trò chuyện với cha, bà đã thuận theo lời ông. “Ba tôi rất kiên quyết, ông nói tên của tôi là do ba đặt nên có quyền lấy lại. Ba thích tên Mộng Tuyền, nó gần gũi, dễ thương hơn, còn tên Kim Loan là con chim vàng nhưng rồi cũng sẽ bay đi và tôi cũng vậy. Ba sợ một ngày nào đó tôi sẽ bay đi. Vậy là tôi trở thành Mộng Tuyền cho đến ngày hôm nay”, bà tâm sự.

Xuất hiện lần đầu tiên trên màn bạc trong bộ phim hành động 11 giờ 30 của đạo diễn Lê Hoàng Hoa, nhan sắc của Mộng Tuyền đã tạo được dấu ấn đặc biệt. Chỉ sau lần chạm ngõ ấy, Mộng Tuyền-cô gái sở hữu nhan sắc rạng ngời, tươi tắn đã nhận được sự yêu mến, ngưỡng mộ của công chúng. Ngay lập tức, bà được người ta trao cho những mỹ từ để ca tụng nhan sắc và đưa vào danh sách những mỹ nhân nức tiếng của Sài Gòn lúc bấy giờ.

Khởi nghiệp với cải lương nhưng điện ảnh mới là nơi đưa cái tên Mộng Tuyền chạm đến đỉnh cao của danh vọng. Tên của bà đã gắn liền với nhiều bộ phim đình đám trước năm 1975.

Giai đoạn 1975-1985, bà vẫn là một gương mặt sáng của nền điện ảnh trong nước. Những vai diễn của Mộng Tuyền trong Cô Nhíp (năm 1976), Trang giấy mới (năm 1979), Tình yêu của em (năm 1982),… đều được công chúng đón nhận nồng nhiệt.

Không chỉ thành công ở sân khấu cải lương, màn ảnh rộng, Mộng Tuyền còn được coi là “Nữ hoàng trẻ” của làng đĩa nhựa. Với bản tân cổ giao duyên Thầm kín, Mộng Tuyền đã lập kỷ lục về doanh số bán ra thời bấy giờ. Trong những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, Mộng Tuyền là một trong những giọng ca tân cổ giao duyên ăn khách nhất.

Lận đận duyên tình

Mộng Tuyền là người cô gái hội đủ thanh sắc, những tưởng cuộc sống sẽ vì thế mà dễ dàng với người con gái ấy. Nhưng, sự đa đoan trắc trở cứ ám vào bà để rồi khi đã ở cái tuổi U60 Mộng Tuyền vẫn mang nặng nỗi niềm.

Thuở thanh xuân, với nhan sắc rạng ngời, tài năng xuất  chúng và danh tiếng vang xa Mộng Tuyền là người trong mộng của cánh đàn ông. Không thiếu vương tôn công tử, doanh nhân giàu có,… săn đón bà, muốn có được bà. Thế nhưng, cha của Mộng Tuyền canh chừng con gái rất nghiêm ngặt nên tất cả các cây si đều bị “bứng gốc”.

“Hoa hậu cải lương” Mộng Tuyền hồng nhan đa truân, tìm tình nơi viễn xứ (Hình 2).Nhan sắc mặn mà của “hoa hậu cải lương” khi ở tuổi xế chiều.

Sau này, Mộng Tuyền khiến nhiều người đau lòng khi thú nhận. Bà không có tuổi thơ, thanh xuân cũng chẳng có tình yêu, gia đình chính là nơi bà dành trọn sức trẻ để cống hiến.

Cuộc hôn nhân với một sĩ quan của chế độ cũ cũng xuất phát từ sự hiếu nghĩa của người con gái ấy. Thế nhưng, cuộc hôn nhân ấy lại chẳng màu hồng mà ngược lại, nó khiến trái tim của cô gái trinh nguyên Mộng Tuyền phải chịu nhiều tổn thương. Hôn nhân của bà bị bủa vây với đủ mọi rắc rối và đây cũng là giai đoạn Mộng Tuyền bị gắn với danh xưng “Nữ hoàng scandal”. Dù bà phải chịu nhiều đắng cay đến vậy, nhưng khi nói về người đàn ông này, Mộng Tuyền vẫn dành cho ông sự trân quý chứ không hề oán trách.

Nói về người chồng thứ nhất, bà thú nhận mình lấy chẳng phải vì yêu mà vì bổn phận của một người muốn cho gia đình và các em sung túc, hạnh phúc nhiều hơn. Đối với chồng, bà mang nặng ơn nghĩa hơn là tình yêu.

Sau năm 1975, Mộng Tuyền sống như vợ chồng với bầu Xuân đoàn Dạ Lý Hương. Cuộc tình này bắt đầu bằng chữ yêu nhưng 2 chữ hạnh phúc vẫn rất xa vời với Mộng Tuyền. Sau một thời gian gắn bó, họ chia tay trong lặng lẽ. Mộng Tuyền kết thúc mối tình này với những thua thiệt, điều tiếng nhận về bản thân. Sau mối tình nhiều đắng cay với bầu Xuân, Mộng Tuyền lấy một thương gia và cùng chồng sang Pháp sinh sống. Vẫn tưởng, cuộc sống hôn nhân lần này sẽ là cái kết viên mãn cho người con gái tài sắc vẹn toàn, nhưng… một lần nữa kiếp đa đoan lại vận vào bà. Cuộc hôn nhân tan vỡ sau 20 năm gắn bó.

Sự tan vỡ ấy khiến nhiều người ngỡ ngàng, không ai tin khi đã ở sườn dốc bên kia, bà lại quyết định dừng lại. Nhưng, với bà, một người phụ nữ đã trải qua đủ những hỉ, nộ, ái, ố trong đời, quyết định nào cũng có lý do của nó. Và thế là Mộng Tuyền lại một lần nữa cô đơn. Lần thứ ba đổ vỡ tưởng như tình yêu đã chết trong tim người nghệ sĩ xinh đẹp. Thế rồi, trái tim của giai nhân lại loạn nhịp và yêu lần nữa. Ở cuộc hôn nhân thứ tư này, bà đã tìm thấy sự bình yên.

Nguồn: tổng họp