Tiến Phước – chàng phụ hồ theo nghiệp cải lương

0
96

Trong mắt của công chúng, nghệ sĩ là người có cuộc sống sang trọng, đủ đầy và lung linh màu sắc. Thực tế, những người làm nghệ thuật có nhà cao, cửa rộng chỉ là những ngôi sao, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.

Còn phần nhiều là những vai phụ, vai thứ nên ít tên tuổi, thường có cuộc sống chật vật như bao người lao động phổ thông khác. Song, dù sống trong cảnh thiếu thốn, không ít người trong số họ vẫn trung thành với tổ nghiệp, quyết sống chết với nghề.

Và trong lĩnh vực cải lương, Tiến Phước là một trường hợp như vậy.

Cậu bé bán mía trước rạp hát

Tiến Phước từng đoạt HCB cá nhân tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1995, khi hát cho Đoàn cải lương tuồng cổ 1 ở TP.HCM mà tiền thân là đoàn Minh Tơ. Trước đó, anh đoạt HCB cá nhân khi hát cho Đoàn cải lương Sông Hậu 2 tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985. Hiện tại, ở tuổi ngoài 60, anh vẫn bám nghề, nhưng phải làm thêm nghề thợ hồ để nuôi dưỡng đam mê.

Chú thích ảnhNghệ sĩ Tiến Phước

Sống khổ mà lại quá yêu nghề hát, nên bạn bè đặt cho Phước biệt danh là “đạo cuồng”. “Đạo” ở đây là nghệ thuật, còn “cuồng” là tính từ miêu tả lòng say nghề. Cũng có thể hiểu, đó là người xả thân với cái đạo mình theo. Biệt danh đạo cuồng cũng một phần vì Phước am hiểu nghệ thuật tuồng cổ, anh hay phát biểu thẳng thắn, đụng chạm tới nhiều người nói không đúng về nó.Tiến Phước sinh ra trong một gia đình nghèo tại Sài Gòn. Lúc còn rất nhỏ, anh phải đi làm thuê, làm mướn kiếm tiền phụ mẹ. Cuộc đời xô đẩy, Phước bán cóc ổi mía ghim (mía dóc vỏ, cắt khúc) ngay trước rạp hát của Đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ. Những buổi nghe hát “cọp” (sau khi bảo vệ đã thả cửa cho vào đứng phía sau) khiến cậu bé Tiến Phước say mê nghệ thuật cải lương và liên tục len lỏi vào xem ké.

Khoảng 1976, niềm đam mê quá lớn thôi thúc Tiến Phước xin vào Đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ học hát. Anh kể: “Ông bầu xem tướng tôi xong thì nhận, nhưng lúc đầu cho làm hậu đài, bưng bê và kéo màn. Thử thách cả năm trời, ông mới cho vô làm quân sĩ câm đứng hầu, ít lâu sau lên làm quân sĩ có thoại. Tập dượt một thời gian nữa, ông cho lên làm chư tướng, có thoại ngắn, có ca và vũ đạo chút ít, rồi lên làm chư tướng phụ, rồi chư tướng lớn dù vẫn là vai xếp dưới kép phụ. Đó là một quãng thời gian gian nan nhưng đầy ý nghĩa, khi tôi được trui rèn ca diễn kỹ lưỡng và bài bản. Từ đó tôi đã xem sân khấu là đạo, còn nghệ sĩ, khán giả trung thành là các đạo hữu”.

Chú thích ảnhTiến Phước có thể diễn nhiều loại vai, nhưng ấn tượng nhất vẫn là thể loại vai ác, phản diện. Nhiều lần, khán giả đã chọi dép và chửi rủa anh thậm tệ, khi anh diễn kép độc. Các ông bầu thấy Tiến Phước diễn quá hay nên mời về đoàn của họ đóng kép, vai lớn hơn ở đoàn cũ. Vì muốn tìm cơ hội cho bản thân nên anh đã rời Minh Tơ theo nhiều đoàn nhỏ như Mùa hoa mới, Hoa xuân, Kim Long… Lúc này, anh được đóng những vai lớn và cải lương trong thời kỳ hưng thịnh, khán giả khắp các tỉnh thành đón nhận nồng nhiệt.

Năm 1985, anh về hát cho Đoàn cải lương Sông Hậu 2. Khán giả các tỉnh miền Tây và miền Trung rất hâm mộ Phước, vì lối hát bài bản và lối diễn độc đáo. Tài năng của anh được chứng minh qua vai diễn ông Tư Ròm vở Trong cơn giông của tác giả Xuân Phong. Điều đáng nói, tính cách nhân vật này là hài hước, nhưng Tiến Phước diễn rất đạt nên được trao huy chương bạc.

Đi làm thợ hồ nuôi nghề diễn

Thập niên 1990, cải lương xuống dốc, các đoàn nhỏ ở tỉnh không cầm cự nổi, rã đám. Tiến Phước quay về TP.HCM. Một thời gian sau, các đại bang của sân khấu cải lương cũng ngưng hoạt động. Vài người bạn rủ Tiến Phước chuyển sang làm nghề khác mưu sinh. Anh ngẫm nghĩ rất lung rồi vẫn quyết theo nghề hát.

Chú thích ảnhThợ hồ Tiến Phước luôn sẵn sàng bỏ đồ nghề để đi hát

Phước về Đoàn cải lương tuồng cổ 1 của TP.HCM. Suất diễn ít, nghệ sĩ không ai đủ tiền để sống với nghề, anh theo bạn làm thợ hồ để kiếm hai bữa qua ngày. Lúc đó anh 33 tuổi. Dù làm thợ hồ nhưng chất nghệ sĩ của Phước vẫn tràn đầy. Đang làm công trình, nhưng nghe kêu đi hát, là anh bỏ ngang, nên hay bị đuổi việc và sống cảnh bữa đói bữa no.

Về sau, cải lương càng thêm đuối, Tiến Phước thì dần lớn tuổi, chỉ còn đi hát chầu ở đình chùa, miếu mạo. Anh làm thợ hồ suốt nhiều tháng, đến mùa lễ thì cất bộ đồ lao động, khoác vào mình xiêm y lộng lẫy và thăng hoa vào các nhân vật. Dù hát ở nơi chỉ có vài chục khán giả, sân khấu phông màn tạm bợ, ấy vậy mà anh vẫn hạnh phúc. Anh vẫn hát một cách đàng hoàng, chỉn chu như trên sân khấu lộng lẫy và hoành tráng.

Anh bộc bạch: “Dù hát ở sân khấu nghèo, nhưng khi đã xem nghệ thuật là đạo, tôi vẫn cảm nhận được niềm vui tột cùng. Ai thực sự yêu nghệ thuật, không đến với nghệ thuật bằng khát vọng nổi danh và kiếm tiền, sẽ hiểu được điều tôi nói”.

Chú thích ảnhTiến Phước trong phim “Song lang”

Sau này, Tiến Phước được mời đóng rất nhiều phim truyền hình, ghi hình trích đoạn cải lương. Đặc biệt, anh cũng được đạo diễn Leon Lê mời đóng một vai nhỏ trong phim Song lang, nói về nghệ thuật cải lương, đoạt rất nhiều giải thưởng quốc tế. Trong phim, vai của Tiến Phước cũng là một đạo cuồng, muốn tận hiến đến hơi thở cuối cùng cho sân khấu.
Giờ đây, ở tuổi ngoài 60, Tiến Phước vẫn sống nhà thuê, bữa rau bữa cháo. Có hôm bệnh yếu trong người nhưng khi được kêu đi hát thì năng lượng của anh lại chảy tràn như thời trai trẻ.

Nỗ lực bảo tồn nghệ thuật cải lương trong thời đại số: Cải lương thật và đẹp

Cải lương là loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đặc sắc ở vùng đất Nam Bộ. Trải qua hơn 100 năm kể từ khi ra đời, cũng như nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác, để tồn tại và phát triển, có vị trí lâu bền trong lòng khán giả, nghệ thuật cải lương đang đứng trước nhiều thách thức.

Những giải pháp bảo tồn nghệ thuật cải lương đã và đang được cơ quan chức năng, các nghệ sỹ, người yêu mến nghệ thuật truyền thống ở trong nước cũng như quốc tế thực hiện với mong muốn loại hình nghệ thuật này được gìn giữ, có bước phát triển mới trong thời đại số.

Phóng viên TTXVN phản ánh nội dung này qua hai bài viết: Nỗ lực bảo tồn và phát triển nghệ thuật cải lương trong thời đại số.

Theo các nhà nghiên cứu nghệ thuật sân khấu, trong quá trình khẩn hoang, hình thành vùng đất Nam Bộ, cư dân miền đất mới này đã sáng tác ra hai loại hình nghệ thuật độc đáo, đó chính là nghệ thuật đờn ca tài tử và cải lương. Trải qua hơn 100 năm lịch sử, cải lương đã trở thành một loại hình nghệ thuật sân khấu gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân không chỉ ở vùng đất Nam Bộ mà có sự lan tỏa ra cả nước.
Loại hình nghệ thuật đặc sắc

Cải lương là loại hình nghệ thuật có sự tổng hợp của hát bội, đờn ca tài tử và chịu ảnh hưởng của kịch nghệ phương Tây. Theo năm tháng, loại hình nghệ thuật này đã có những biến cải về nội dung tuồng tích, điệu ca, lời hát cho đến cách thức bài trí sân khấu… Song, có thể khẳng định, dù có thay đổi, cải tiến đến đâu thì những giá trị cốt lõi của nghệ thuật cải lương như tính trữ tình, nét bi, sự khôi hài… vẫn tồn tại trong nhiều vở diễn kinh điển của loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

Phó Giáo sư Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, thuật ngữ cải lương mang ý nghĩa là “cải cách và sửa đổi cho trở nên tốt hơn”. Cải cách, sửa đổi ở đây chính là hướng đến sự phát triển của nghệ thuật sân khấu ở Nam Bộ vừa mang đậm nét truyền thống, vừa theo kịp đà phát triển của văn minh. Điều này thể hiện qua hai câu đối: “Cải cách hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tích sánh văn minh”.

Chú thích ảnh
Nghệ sĩ nhân dân Lệ Thủy và Nghệ sĩ Ưu tú Minh Vương biểu diễn tại chương trình giao lưu, biểu diễn và tôn vinh nghệ sĩ cải lương, nhân kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển Nghệ thuật sân khấu Cải lương. Ảnh: Gia Thuận – TTXVN

Có thể nói, sự ra đời nghệ thuật sân khấu cải lương là kết quả của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Pháp, giữa loại hình nghệ thuật truyền thống vốn phổ quát ở miệt vườn Nam Bộ là đờn ca tài tử và nghệ thuật sân khấu kịch thoại của Pháp. Quá trình giao lưu văn hóa này đã hòa quyện một cách sâu đậm vào dòng văn hóa Nam Bộ đến mức khi khán giả xem một vở cải lương thì không còn phân biệt đâu là sự ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp. Ở Nam Bộ, cải lương thật sự đã trở thành một loại hình nghệ thuật hấp dẫn với nội dung cốt truyện và lối diễn xuất của nghệ sỹ phù hợp tâm tư, nguyện vọng, lối sống phóng khoáng của người dân phương Nam.

Cũng theo Phó Giáo sư Ngô Thị Phương Lan, trong cuốn Hồi ký 50 năm mê hát, học giả Vương Hồng Sển từng cho rằng, cải lương chính thức đến với công chúng Nam bộ vào ngày 16/11/1918 khi vở “Gia Long tẩu quốc” được trình diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn. Dấu mốc lịch sử này được xem như ngày ra đời của nghệ thuật cải lương Nam bộ.

Còn nhà văn, đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc-người vừa cùng một nhóm nghiên cứu phỏng vấn, ghi lại những kỷ niệm và hồi ức về nghệ thuật cải lương của các nghệ sỹ trong khuôn khổ dự án Di sản kết nối do Hội đồng Anh thực hiện tại Việt Nam, chia sẻ: Nghệ thuật cải lương ra đời xuất phát từ lòng yêu nước của những người dân phương Nam muốn nước nhà có một nền nghệ thuật biểu diễn riêng, đặc sắc… Nghệ thuật cải lương đúng là một hình thức văn hóa độc đáo như Nghệ sỹ Nhân dân Nguyễn Thành Châu (Năm Châu)-một trong những nghệ sỹ cải lương bậc thầy từng nói: Cải lương thật và đẹp.

Những ký ức không thể phai mờ

Nghệ thuật sân khấu cải lương được hình thành từ năm 1918 và đã từng bước phát triển bằng sự đóng góp tâm huyết của nhiều thế hệ nghệ sỹ, những trí thức nho học, tây học yêu thích tuồng tích cổ xưa nhưng muốn nó được cách tân, những doanh nhân mộ điệu thành lập các đoàn hát riêng để vừa thường thức nghệ thuật vừa kinh doanh và trên hết là các thế hệ khán giả yêu thích nghệ thuật cải lương Nam Bộ

Theo Nghệ sỹ Nhân dân, đạo diễn Trần Minh Ngọc (nguyên  Hiệu trưởng Trường nghệ thuật sân khấu 2, nay là Trường Đại học Sân khấu và điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh), giai đoạn 1955 – 1975 được giới sân khấu coi là thời kỳ hoàng kim của sân khấu cải lương. Sở dĩ có sự đánh giá cao này là do đây là thời kỳ nghệ thuật cải lương đạt được tất cả mọi tiêu chí của nghệ thuật trình diễn như kịch bản có nội dung tốt được viết bởi những tác giả rất giỏi. Diễn viên hát rất hay do được dàn nhạc tài hoa hỗ trợ và khán giả rất say mê, mộ điệu hết lòng ủng hộ nghệ sỹ. Đội ngũ sáng tạo đàn anh như Nghệ sỹ Nhân dân Năm Châu, Mộng Vân, Lê Hoài Nở, Tư Chơi, Tư Trang vẫn tiếp tục sáng chói trong giai đoạn này cùng với đông đảo các soạn giả trẻ, nhiệt tình, năng động, bút lực dồi dào như Viễn Châu, Kiên Giang, Hà Triều – Hoa Phượng, Thu An, Quy Sắc, Thiếu Linh, Ngọc Linh… đã tạo nên những kịch bản hay về nội dung, đậm chất nhân văn và triết lý sâu sắc. Hàng trăm vở cải lương tiêu biểu đã làm nên tên tuổi các nghệ sỹ như Thanh Nga, Út Bạch Lan, Út Trà Ôn, Kim Cúc, Ngọc Giàu, Diệp Lang, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Tòng, Thanh Kim Huệ.

Nhấn mạnh sức lan tỏa của nghệ thuật cải lương không chỉ ở vùng đất Nam Bộ, Nghệ sỹ Ưu tú, đạo diễn Ca Lê Hồng (Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, tuy khởi nguồn từ vùng đất phương Nam, mang hồn cách đặc sắc riêng của miền đất phù sa hiền hòa, từ giọng ca đầy sức truyền cảm cho đến âm điệu luyến láy ngọt ngào, song sân khấu cải lương không chỉ được công chúng phía Nam hâm mộ mà đã có sức lan tỏa khắp cả nước.
Từ những năm 30 của thế kỷ trước đã có những đoàn cải lương lưu diễn từ miền Nam ra miền Trung cho đến miền Bắc. Sau những đợt lưu diễn, một số nghệ sỹ đã trụ lại một thời gian dài ở Hà Nội để truyền nghề. Từ đó, sân khấu cải lương Nam Bộ được nhiều nghệ sỹ miền Bắc tiếp nhận, xây dựng nên các đoàn Cải lương Bắc như: Chuông Vàng, Kim Phụng, Liên đoàn Cải lương Khu 4…; một số nghệ sỹ đã thành danh như: Sỹ Tiến, Kim Chung, Ái Liên… Từ sau ngày Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954, đất nước chia cắt, sân khấu cải lương tồn tại và hoạt động trong hai hoàn cảnh khác nhau. Tại miền Bắc, các văn nghệ sỹ cải lương miền Nam tập kết được tập hợp để thành lập Đoàn Cải lương Nam Bộ, đại diện cho sân khấu cải lương Nam Bộ trên đất Bắc.

Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, các nghệ sỹ cải lương tập kết trở về miền Nam, cùng với một số nghệ sỹ cải lương trong đoàn Văn công Giải phóng, hợp thành Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang (Thành phố Hồ Chí Minh) dựng nhiều vở diễn tiêu biểu như: Nàng Xê đa, Hòn đảo thần vệ nữ, Rạng ngọc Côn Sơn, Thái hậu Dương Vân Nga, Kiều Nguyệt Nga…

Theo Thạc sỹ Phạm Thái Bình (Trung tâm Văn hóa, Sở Văn hóa-Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh), sau năm 1975, hầu hết các tỉnh, thành phố phía Nam đều thành lập các đoàn nghệ thuật cải lương như: Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang (Thành phố Hồ Chí Minh), Đoàn Cải lương Võ Thị Sáu (Đồng Nai), Đoàn Cải lương Tây Đô (Cần Thơ), Đoàn Cải lương  Hương Tràm (Cà Mau)… Nhiều hội diễn, liên hoan sân khấu cải lương cũng đã được tổ chức quy mô, phục vụ công chúng yêu nghệ thuật sân khấu nước nhà.

Nguồn: thethaovanhoa