Thái hậu Dương Vân Nga’ Bạch Tuyết – Xứng danh ‘Cải lương chi bảo’

0
161

Sau 1975, sân khấu có 2 vở cải lương cùng nói về Dương Vân Nga. Một vở tựa đề Dương Vân Nga của tác giả Huy Trường chuyển thể từ kịch bản chèo của Trúc Đường, đạo diễn NSƯT Ca Lê Hồng, do đoàn Thanh Minh – Thanh Nga dàn dựng, vai chánh do NSƯT Thanh Nga đảm nhận.

Vở thứ hai có tên Thái hậu Dương Vân Nga của nhóm tác giả Hoa Phượng – Chi Lăng – Hoàng Việt – Thể Hà Vân cũng chuyển thể từ kịch bản chèo ấy, đạo diễn Chi Lăng, Nhà hát Trần Hữu Trang dàn dựng, vai chánh do NSND Bạch Tuyết thủ diễn.

1. Tài năng của Thanh Nga hay Bạch Tuyết đều rực sáng trong mỗi kịch bản với những góc độ khác nhau. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ nhắc đến NSND Bạch Tuyết bởi đó đúng là vai diễn để đời của bà, trong khi NSƯT Thanh Nga đã có những vai để đời khác trong Tiếng trống Mê Linh, Bên cầu dệt lụa.

Chú thích ảnhNSND Bạch Tuyết

Dương Vân Nga là vợ của vua Đinh Tiên Hoàng, bà trẻ hơn ông rất nhiều tuổi. Chính vì vậy khi Đinh Tiên Hoàng mất đi, con trai là Đinh Toàn lên nối ngôi khi còn quá nhỏ, bà phải đóng vai trò nhiếp chính. Giặc Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Dương Vân Nga đã quyết định nhường ngôi cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Lê Hoàn lên ngôi (tức vua Lê Đại Hành), và Dương Vân Nga trở thành vợ của ông, hiệu là Đại Thắng Minh hoàng hậu.

Giai đoạn chính sự rối ren, các quan trong triều nổi dậy, giặc ngoại xâm lăm le bờ cõi, một người phụ nữ vừa trông con nhỏ, vừa chống đỡ sơn hà, lại gắn với một nghi vấn tình yêu chưa làm rõ… tất cả quả là những tình tiết đắt giá cho nghệ thuật khai thác. Và vở cải lương đã xoáy sâu vào giai đoạn này để bật lên hình ảnh Dương Vân Nga vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, nhưng cuối cùng vẫn là một bậc mẫu nghi đáng cho nhân dân lập đền thờ.

Chú thích ảnhNSND Bạch Tuyết trong “Thái hậu Dương Vân Nga”. Ảnh: H.K

NSND Bạch Tuyết đã khai thác nhân vật Dương Vân Nga trong sự chừng mực mà điêu luyện giữa sự mong manh rất phụ nữ và hùng khí dân tộc Việt. Dương Vân Nga của Bạch Tuyết có những giây phút yếu đuối, nản lòng khi nhìn chung quanh thấy triều đình chia rẽ, đố kỵ, có những giây phút cô đơn khi đối diện ngọn đèn đêm không ai chung gối chăn, không ai chia sẻ nỗi niềm, và cả những giây phút sợ hãi khi con mình bị bắt đi để làm áp lực. Bạch Tuyết đã làm người xem rơi nước mắt khi bà thất thần nghe tin dữ về con với trái tim đầy giằng co, thử thách của người mẹ.

Một hồng nhan ngổn ngang trăm mối, làm sao khỏi những thoáng qua khát thèm nương tựa, ao ước an bình? Một Dương Vân Nga đang sống yên ổn trong vòng tay của Đinh Tiên Hoàng, bỗng chốc phải trơ thân chống đỡ bao sóng to gió lớn, phận liễu bồ ngả nghiêng theo vận nhà vận nước. Cảm thương cho trái tim ấy, cũng không quá khó hiểu khi bà tựa vào bờ vai vững chãi của Lê Hoàn. Dù vậy, trong vở này tác giả đã không khai thác nhiều về nghi vấn tình yêu giữa Thái hậu Dương Vân Nga và Lê Hoàn, mà chỉ nhấn mạnh hào khí của bà trước lợi ích chung của nước Việt. Bạch Tuyết đã khắc họa được điểm son đó với một phong thái ung dung không kém phần uy vũ.

Chú thích ảnhNSND Bạch Tuyết trong vở kịch “Hoàng hậu của hai vua”. Ảnh: H.K

2. Chỉ một lớp diễn thôi, Bạch Tuyết đã có nhân vật để đời trong hành trang nghệ thuật của mình. Bà diễn một mình với trường đoạn cô đơn tâm sự, sau đó như thì thầm với di sản tiền nhân để lại, rồi cuối cùng đi đến quyết định trao long bào cho Lê Hoàn một cách dứt khoát, không gì lay chuyển được.

Từ tạo hình cho đến kỹ thuật diễn xuất, Bạch Tuyết đều có sự chuẩn mực, đạt bố cục rất đẹp, nhất là khi bà tâm sự với giàn gươm giáo mà tiền nhân để lại trong những khung hình thật tuyệt cho sân khấu.

Phải nói công tâm, Bạch Tuyết sử dụng kỹ thuật biểu diễn rất rõ, nhưng không làm người ta khó chịu, mà thấy đúng là một “giáo trình” tốt cho diễn viên trẻ sau này. Bà chăm chút từng chi tiết tạo hình như những cái đưa tay, những bước xoay người, nhún chân… tất cả đều được tính toán theo “khuôn vàng thước ngọc”… Bà diễn mềm mại nhưng phong thái vẫn bảo đảm tính uy nghi, thông minh, quyết đoán – để rồi trên sân khấu, khán giả được thấy một Dương Vân Nga của Bạch Tuyết mạnh mẽ kiên cường nhưng không hề lên gân mà vẫn ung dung lạ lùng, toát lên sự thu hút khiến người xem nể phục.

NSND Bạch Tuyết và NSND Ngọc Giàu trong vở “Đời cô Lựu”. Ảnh: H.K

Còn một điểm tuyệt vời nữa của Bạch Tuyết: Bà nói và ca quá hay. Lời văn của nhóm tác giả thật sự đẹp đến mê hồn, nghe kỹ từng câu từng chữ mới thấy rung động cả tâm can. Với tài năng nhả chữ và chất giọng ấm áp, Bạch Tuyết đã làm thăng hoa chất văn học cho cải lương.

Chính vì nghe những lời văn này qua chất giọng đẹp của Bạch Tuyết mà khán giả đã khóc khi xem. Khóc vì cảm được hồn thiêng sông núi như âm vang hòa quyện mọi nơi. Khóc vì đặt mình vào thế cuộc thăng trầm, thương cho phận mình và phận người cùng trăm mối ngổn ngang. Khóc vì vui sướng khi toàn dân một lòng nắm chặt tay bảo vệ non sông. Rất lạ, người ta không khóc vì những tình tiết lâm ly bi đát, mà người ta lại khóc vì khúc bi tráng của dân tộc. Bạch Tuyết đã làm được điều này quả không hề dễ dàng.

“Trời ơi, bão táp mưa sa. Một Dương Vân Nga chống đỡ nổi sơn hà? Thù nhà nợ nước nặng oằn vai. Chỉ còn một người thôi, nơi biên trấn xa xôi, biết nhờ ai nhắn gởi tin hồng? Giữa giông tố bão bùng, về cứu lấy non sông…”.

“Ơi giáo ơi gươm, sao lại chịu lạnh lùng hoen rỉ. Nghe đâu các ngươi xưa đã từng theo tiên vương qua một thời oanh liệt. Sao bây giờ chịu trầm mặc trong giá gỗ cam chịu phận hẩm hiu. Ta muốn chiêu hồn các ngươi. Ta muốn chiêu hồn các ngươi hỡi những vật vô tri đang im lìm hoài cổ. Sao các ngươi không nhớ lại màu cờ, tiếng trống trận thuở xa xưa. Thuở nào vô tri giác, nay đã có linh hồn. Sao các ngươi còn đứng lặng thinh, có nghe chăng tiếng sơn hà rung chuyển…”.

“Ta đây dẫu phận quần thoa cam bề góa bụa, nhưng ngắm non sông trăm nỗi quốc thù, nhìn lê thứ sôi hờn nhục nước, nên quyết cài trâm xốc áo đứng lên, thề sống chết cùng quân nghịch tặc”…

Ai cũng biết, trong cải lương nói lại khó hơn ca, cho nên cả một trường đoạn Bạch Tuyết đã làm khán giả say sưa với những lời văn đầy chất thơ. Bạch Tuyết quả xứng là “Cải lương chi bảo”.

NSND Lệ Thủy – Nàng Tô Ánh Nguyệt lặng lẽ bên đời

Vở cải lương Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang ra đời khoảng 1935-1936, nhưng thực sự gây tiếng vang rất lớn khi Đoàn cải lương 284 dựng lại với bàn tay đạo diễn của NSND Diệp Lang.

Trong đó, cặp đào kép chánh là Minh Vương – Lệ Thủy đã lấy nước mắt người xem không biết bao nhiêu. NSND Lệ Thủy đã vào vai nàng Tô Ánh Nguyệt một cách chân thành, giản dị, đúng với tư chất của bà.

1. Năm đó, Lệ Thủy còn trẻ lắm, nét mặt đẹp một cách chân chất, cho nên đóng rất nhập vai cô Nguyệt từ quê lên tỉnh học đã yêu anh Minh (Minh Vương) bằng tất cả trái tim non nớt đầu đời. Nhưng khi cô vừa có thai thì gia đình Minh bắt anh về cưới vợ. Cha Nguyệt là ông Cả trong làng, cũng ép cô lấy chồng, nên Nguyệt bỏ nhà ra đi để giữ thanh danh cho gia đình.

Một thân một mình với đứa con vừa chào đời, khó khăn vây bủa, sau phải về phụng dưỡng mẹ già đau yếu, cô đành chọn cách gởi con lại cho gia đình Minh, mong nó có cuộc đời sung sướng. Minh lấy vợ là Dung, nhưng không có con, nên hai vợ chồng đồng ý nhận đứa bé làm con nuôi. Câu chuyện đau đớn bắt đầu từ đây.

Tô Ánh Nguyệt đã đau đớn từ khi mất người yêu, rồi bị cha đánh chửi, rồi phải xa lìa mái ấm, nhưng những hoàn cảnh đó cô có thể chịu được, đến khi phải bứt lìa núm ruột của mình thì nỗi đau của người phụ nữ mới thật sự lên tới đỉnh điểm.

Ai từng làm cha làm mẹ đều biết, con cái là niềm hạnh phúc lớn nhất, là mối quan tâm đến suốt cuộc đời. Người ta có thể chịu đựng mất mát mọi thứ, nhưng mất con thì đất trời như sụp đổ. Chính tâm lý đó đã tạo đất diễn cho Lệ Thủy.

NSND Lệ Thủy vai Tô Ánh Nguyệt (phải), NSND Thoại Miêu vai vợ của anh Minh. Ảnh: H.K

Nàng Tô Ánh Nguyệt đã ẵm đứa con đến nhà của Minh với một trái tim tan nát. Hình ảnh người mẹ nghèo khó trong bộ bà ba đen, chiếc nón lá cũ, cái giỏ đệm xơ xác, và những bước chân rụt rè, lảo đảo. Rụt rè bởi cô Nguyệt phải giấu thân phận của mình, không thể lộ diện là người yêu cũ, chỉ giả như một phụ nữ xa lạ tìm đến để cho đi đứa con. Rụt rè bởi thấy gia thế người ta đồ sộ sang giàu, không biết họ có chịu nhận nuôi con mình. Rồi lảo đảo bởi phải đối diện với sự trái ngang, giằng xé. Bao nhiêu cơn sóng cuốn lấy bước chân bất hạnh…

Khi vượt qua được sự rụt rè để nói lên ý nguyện cho con, thì tiếp theo là nỗi đau khi đối diện người yêu cũ mà không dám nhìn nhau. Họ đã “tâm sự” một đoạn dài mà kẻ vô tình, người thì cố ý. Cô Nguyệt vòng vo khéo léo trách móc người đàn ông tệ bạc. Còn anh Minh thì vô tình thố lộ tâm can, vô tình phơi bày trái tim cô đơn trong cuộc hôn nhân ép buộc. Nước mắt đôi bên cùng chảy.

Thế là họ đã hiểu nhau, đúng hơn cô Nguyệt đã hiểu và thông cảm cho người thương của mình. Những lời hát đầy ẩn ý, sâu xa, tê tái, đã làm nên một lớp diễn hay cho Minh Vương – Lệ Thủy.

NSND Lệ Thủy và NSND Minh Vương trong vở “Sông dài”. Ảnh: H.K

2. Nhưng nỗi đau thật sự òa vỡ khi Tô Ánh Nguyệt chỉ còn lại một mình với đứa con, phải quyết định cho nó hay không. Lý trí thì biết là phải cho, để nó có cuộc sống bảo đảm, nhưng trái tim người mẹ theo bản năng cứ nhất định kéo về, không nỡ buông tay con. Sự giằng co, cấu xé trong lòng người mẹ đã khiến nước mắt khán giả rơi như mưa.

Tiếng khóc của đứa nhỏ càng đẩy người mẹ vào bức tường chịu đựng. Và người mẹ đã vén áo cho con bú lần cuối cùng, gợi hình ảnh đau đớn nhất của cuộc ly tan. Lệ Thủy khóc thật, chị đứng lảo đảo, sụp đổ, rã rời. Sau này chị kể mỗi lần đóng Tô Ánh Nguyệt là mắt chị sưng luôn, và chị rất mệt. Trái tim người mẹ của Lệ Thủy đã hòa vào trái tim người mẹ của Tô Ánh Nguyệt

NSND Lệ Thủy và NSND Minh Vương đóng chung với nhau trong “Tô Ánh Nguyệt” và trong rất nhiều vở. Ảnh: H.K

Còn một lớp diễn nữa, chứng minh thêm tài năng của Lệ Thủy. Tô Ánh Nguyệt vì quá nhớ thương con, nên đã thuê nhà gần nhà của Minh để hằng ngày được nhìn thấy con khỏe mạnh, trưởng thành. Người mẹ ấy lẳng lặng nép một bên đời để nhìn gia đình người ta hạnh phúc. Cái hạnh phúc lẽ ra là của mình nhưng lại rơi vào tay người khác, chỉ vậy thôi đã đủ cho lòng người sân si. Và thà rằng cách mặt cho mọi thứ lắng dịu, đằng này cứ diễn ra trước mắt, những âu yếm vợ chồng Minh – Dung, những ríu rít mẹ con bên ấy… quả là một thử thách quá sức chịu đựng đối với phụ nữ.

Ớt nào mà chẳng cay, tim nào mà chẳng đau. Cô Nguyệt đã tự chọn cho mình một cuộc thử thách suốt 20 năm mà chưa chắc người phụ nữ nào chịu nổi. Nhưng bởi tình mẫu tử đã lấn át tất cả, cô Nguyệt đã dành trọn trái tim cho đứa con, chấp nhận một cuộc sống lặng lẽ chỉ để nếm chút hạnh phúc dư thừa khi nhìn con khôn lớn. Bà Tô Ánh Nguyệt tóc pha sương trầm tĩnh ngồi thêu gối cưới tặng con là một phong thái rất đẹp của Lệ Thủy.

Thật ra, dư âm tình yêu vẫn còn bừng lên trong Tô Ánh Nguyệt. Minh đã tìm được Nguyệt, và ông cứ lui tới mong hàn gắn lại vết thương lòng, mong nhận từ bà một lời tha thứ. Nhưng bà Nguyệt không muốn phá tan hạnh phúc người ta, chỉ nén lòng giữ lễ với ông Minh, khuyên ông hãy vì con mà sống cho tử tế. Trong hoàn cảnh của bà, rất dễ xiêu lòng, nhưng bà đã chọn tình mẫu tử để làm niềm vui lúc tuổi xế chiều. Tình yêu chỉ cháy lên rất khéo trong ánh mắt Tô Ánh Nguyệt, trong cái tiếng gọi “thầy” nửa hờn trách nửa lễ nghi. Rồi cuối cùng là tiếng gọi “anh” với 2 lần tinh tế.

Khi ông Minh nói: “Anh về nghe Nguyệt!”. Bà trả lời: “Dạ, anh về”. Tiếng “anh” lần này nghe có chút gì đó tha thiết nhói lòng bởi đó chính là tiếng gọi yêu thương bà chờ đợi gần 20 năm. Nhưng khi ông Minh nói lại lần thứ 2: “Anh về nghe Nguyệt!” thì bà cũng trả lời đúng câu: “Dạ, anh về” mà tiếng “anh” bây giờ đã tỉnh hơn, chỉ còn đúng lễ. Nghe tiếng “anh” đó cảm được trái tim bà đã nhẹ nhàng buông ra, không còn nắm giữ nữa. Phải nghe thật kỹ mới khâm phục tài diễn xuất của nghệ sĩ và chắc chắn có bàn tay đạo diễn tinh tế của NSND Diệp Lang.Những lớp diễn tâm lý quá đầy đặn cho nên nghệ sĩ đầu tư rất kỹ, chú trọng từng cách nhả chữ, từng cách nhấn nhá, chứ không phải hoàn toàn thả trôi cho cảm xúc kiểu lên gân, gào khóc, cuồng giận, lụy tình. Mọi thứ đều chừng mực nhưng kỹ thuật biểu diễn đạt đến mức đáng nể. Và NSND Lệ Thủy đã có một vai diễn để đời không ai qua nổi.

Nguồn: thethaovanhoa