Quái kiệt Tám Vân

0
102

Nghệ sĩ lão thành Tám Vân là một cây đại thụ ,một tài năng trong Sân khấu Việt Nam .

Nghệ sĩ Tám Vân và Nguyễn Phương cùng cộng tác trong đoàn hát Việt Kịch Năm Châu trong những năm từ 1954 đến 1956. Lúc đó tôi chỉ là một diễn viên phụ, còn anh Tám Vân là một kép trẻ đẹp trai, được đóng thế vai nghệ sĩ Năm Châu và vài lần hát vai kép chánh, đóng cặp với đôi nữ nghệ sĩ tài sắc Kim Cúc, Kim Lan.

 

Nghệ sĩ Tám Vân tên thật là Lê Văn Tám, sanh năm 1924 tại quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 1939, anh Tám đậu bằng Tiểu Học CEPCI, rồi thi đậu vô học trường College De Mytho tức trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu sau này. Năm 1943, anh thi rớt bằng Brevet Élémentaire nên bỏ học, đi theo anh ruột của anh là nghệ sĩ quái Kiệt Ba Vân để học hát. Anh Ba Vân đặt nghệ danh cho Lê Văn Tám là Tám Vân và dẫn Tám Vân theo đoàn hát đi lưu diễn các tỉnh miền Bắc như Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng…

Tám Vân nhờ có học vấn cao, vóc dáng trẻ đẹp, hơi ca khỏe khoắn, cách phát âm chuẩn mực nên chỉ trong sáu tháng học ca cổ nhạc và học diễn, nghệ sĩ Tám Vân đã có thể đóng được những vai kép nhì hoặc kép đẹp trong các tuồng xã hội của soạn giả Nguyễn Thành Châu.

Lập nghiệp ở Lào và Thái Lan

Năm 1944 đoàn hát trở về Saigon, nghệ sĩ Tám Vân được đoàn hát Quảng Lạc Hà Nội mời làm kép chánh. Anh ở lại hát cho đoàn Quảng Lạc, lúc đó mở một chuyến lưu diễn sang nước Lào. Sau đó, vì tình hình chiến tranh sôi động, quân đội Thiên Hoàng của Nhựt Bổn vào Đông Dương, phi cơ Đồng Minh liệng bôm Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc. Đoàn hát Quảng Lạc không trở về Hà Nội, lưu diễn các tỉnh ở Thái Lan, nơi có nhiều Việt Kiều ở. Nghệ sĩ Tám Vân thành hôn với nữ nghệ sĩ Bích Châu, đào chánh của đoàn hát và ở lại Thái Lan 12 năm, sanh được hai con.

Nghệ sĩ Tám Vân. Hình do soạn giả Nguyễn Phương cung cấp.Năm 1954, chiến tranh Việt – Pháp chấm dứt, nghệ sĩ Tám Vân và Bích Châu trở về Việt Nam, gia nhập đoàn hát Việt Kịch Năm Châu.

Nghệ sĩ Tám Vân sáng chói trong vai kép chánh, hát cặp với nữ nghệ sĩ Kim Cúc trong tuồng Người Mặt Cháy.

Nghệ sĩ Tám Vân cũng rất thành công trong vai Hoàng Tử, đóng cặp với nữ nghệ sĩ Kim Lan vai Ô Phê Ly trong tuồng Hàm Lệ, hoàng tử nước Đan Mạch. Tám Vân cũng được khán giả và báo chí kịch trường ngợi khen khi anh thủ diễn những vai kép chánh trong các tuồng Tây Thi, Gái Nước Việt, Gió Ngược Chiều, Miếng Thịt Người, Áo Người Quân Tử, Cách Lan Phương Tử của soạn giả Nguyễn Thành Châu.

Nghệ sĩ Tám Vân ở nước Lào và Thái Lan 12 năm, ở hai nước đó nghệ sĩ hút thuốc phiện và lá thuốc nẩu là một việc bình thường vì thuốc phiện rẻ và dễ mua. Khi anh Tám Vân về Việt Nam, lúc đó chánh phủ Cộng Hòa miền Nam đang bài trừ ma túy và thuốc phiện, do đó thuốc phiện bán lậu, giá mắc hơn vàng. Anh Tám Vân khổ sở vì phải cai thuốc. Đoàn hát Việt Kịch chỉ phát lương cà phê hay nửa cử lương, không đủ tiền mua son phấn, tiền đâu mà mua thuốc? Thêm nữa chị Bích Châu là người miền Bắc, khi ở đoàn hát Quảng Lạc, chị Bích Châu là đào chánh vì hát với những người cùng nói và hát giọng Bắc. Khi gia nhập đoàn Việt Kịch Năm Châu, nghệ sĩ Bích Châu phát âm giọng Bắc trong khi các diễn viên khác hát giọng Nam, đó là một sự lạc lõng mà đạo diễn Năm Châu không chấp nhận. Do đó nghệ sĩ Bích Châu không có vai để hát, số lương định cho chị cũng vì vậy mà ít hơn những nữ nghệ sĩ khác. Cuối cùng nghệ sĩ Tám Vân và Bích Châu rời đoàn Việt Kịch Năm Châu, gia nhập đoàn hát Kim Chưởng.

Ở đoàn hát Kim Chưởng, nữ nghệ sĩ Bích Châu cũng không có vai tuồng nào để hát hợp với giọng Bắc của chị, chị bỏ Tám Vân, trở về Hà Nội để có thể diễn với các bạn nghệ sĩ cùng hát giọng Bắc. Nghệ sĩ Tám Vân không trở ra Hà Nội nữa nên đành chịu mất vợ.

Diễn xuất đa dạng

Nghệ sĩ Tám Vân có khả năng tiếp thu nhanh nghệ thuật biểu diễn các loại tuồng trên sân khấu với các phong cách khác nhau. Khi ở đoàn Việt Kịch Năm Châu, anh hát được các vai chánh trong các tuồng xã hội Tây Phương phóng tác của soạn giả Nguyễn Thành Châu. Khi gia nhập đoàn Kim Chưởng, anh hát những vai kép độc, lẵng, độc mùi trong các tuồng Lá Đào Rơi, Cô Gái Nữ Thần, Oan Hồn Trên Tháp Đá, Tiếng Hát Đền Bá Lạc, Hai Chiều Ly Biệt…

Sau đó Tám Vân về hát cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga từ năm 1962, rồi đến những năm 1969, anh về cộng tác với đoàn hát Dạ Lý Hương, Phước Chung…

Trên sân khấu các đoàn hát cải lương Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Phước Chung…nghệ sĩ Tám Vân thủ diễn những vai lão mùi, lão độc, lão lẵng, vai hề. Không phải do các diễn viên kia diễn hay hơn hay sắc vóc đẹp hơn anh nhưng họ là những danh ca vọng cổ. Những danh ca vọng cổ đó nhờ có giọng ca vàng, êm dịu, quyến rủ, có nghệ thuật luyến láy hay hay có kỷ thuật ca vọng cổ dài hơi nên khán giả thích. Nếu kể về trình độ diễn xuất thì những danh ca vọng cổ trẻ đó chỉ đáng là học trò của Tám Vân nhưng vai tuồng của họ luôn luôn là vai kép chánh, có nhiều chỗ để ca vọng cổ, thu hút khán giả. Đây là một trào lưu mới trong nghệ thuật cải lương: trào lưu của những giọng ca vàng lấn át vai trò và vị trí sân khấu của những kép diễn.

Nghệ sĩ Tám Vân năm 1966. Hình do soạn giả Nguyễn Phương cung cấp.Nghệ sĩ Tám Vân từng đóng thế vai Gia Lử Tế của nghệ sĩ Bảy Nhiêu, vai Gia Lử Sanh của Năm Châu, vai Duy Bạt của Hoàng Kinh trong tuồng Gió Ngược Chiều. Đây là ba vai hát với ba tính cách khác nhau rất khó diễn xuất. Tám Vân là người duy nhứt đóng thay được cả ba vai đó một cách rất xuất sắc.

Những vai hát để đời

Tám Vân cũng đã đóng vai Phê trong tuồng Khi Người Điên Biết Yêu, vai tuồng để đời của nghệ sĩ quái kiệt Ba Vân.

Tám Vân cũng có những vai hát để đời như Vương Tư Đồ trong tuồng Phụng Nghi Đình, vai cha của Hoa Mộc Lan trong tuồng Hoa Mộc Lan, vai Tống Nhơn Tôn trong Xử Án Bàng Quí Phi, vai An Lộc Sơn trong tuồng Trường Hận, vai Tám Hổ trong tuồng Hai Hình Ảnh Một Cuộc Đời, vai ông Đệ trong tuồng Tấm Lòng Của Biển…

Về gia đình thì sau khi vợ anh, nữ nghệ sĩ Bích Châu về Hà Nội, năm 1961, nữ khán giả Quản Thị Minh Nguyện ái mộ anh qua các vai tuồng của anh đóng trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, đã cùng Tám Vân kết hôn.

Chị Quản Thị Minh Nguyệt sanh năm 1921, tại làng An Thạnh, huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre. Chị Minh Nguyệt lấy bút danh Nhị Kiều, có nghĩa là người kiều nữ thứ hai trong gia đình họ Quản, người chị là Quản Thị Trúc Mai, thi sĩ, vợ của một chủ bút của nhựt báo Tiếng Chuông và em là Quản Thị Minh Nguyệt, soạn giả cải lương với bút danh Nhị Kiều.

Ở đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, nghệ sĩ Tám Vân phụ trách sân khấu, đứng tập tuồng và dạy hát cho các nghệ sĩ trẻ Thanh Nga, Bảo Quốc, Thanh Tú, Mộng Tuyền, Kim Hoa, Hương Huyền, Thanh Thanh Hoa, Trang Bích Liểu…

Cố nghệ sĩ Tám Vân được an táng tại nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp vào ngày 22 tháng giêng năm 2009.

Hồi ức về Quái Kiệt Tám Vân

Cách đây gần 10 năm, tôi ra tận Bình Dương viết bài về ông. Đường đi rất ngoằn ngoèo, tôi phải đứng chờ thật lâu ở cổng bưu điện huyện để đứa cháu của ông dẫn vô nhà, nếu không thì đi lạc là cái chắc. Quanh co không biết bao nhiêu ngõ làng xanh um cây lá mới tới nhà ông. Căn nhà cũng ẩn sau một vườn cây xanh um, gió đưa hương đất hương hoa trong trẻo bay vào mũi tôi. Nào cây nhãn, cây mận, cây xoài, mít, ổi… Thật là một nơi “ở ẩn” tuyệt vời cho lão cao nhân gác kiếm giang hồ. Nhưng sự thật, chỉ có ông là “gác kiếm” thôi, còn bà vợ của ông, bà Nhị Kiều, không hề “gác kiếm”, nói đúng hơn, là “gác bút”. Bà vẫn sáng tác kịch bản đều đặn để có nhuận bút nuôi ông. Hai ông bà xấp xỉ tuổi nhau, năm ấy đã hơn 70, tựa vào nhau như hai cái bóng lặng lẽ sau cánh màn nhung sân khấu.

Ông rất ít nói, tôi hỏi chuyện gì dường như chỉ có bà trả lời giùm. Ông ngồi trầm ngâm ở cái ghế dựa, nhìn ra sân vườn nhạt nắng. Chỗ nào bà không nhớ hoặc nói không chính xác thì ông mới “đệm” vô. Tay ông luôn có điếu thuốc, mà hút cũng rất chậm, hít một hơi rồi nhả ra từ từ như để cho khói ngấm vào lòng. Và tôi cảm giác ông cũng đang để cho sự đời ngấm vào lòng. Dù không nói lời nào, nhưng ông ngấm hết những nhân tình thế thái, những đắng cay ngọt bùi của một kiếp con tằm nhả tơ.

Ông chính là hiện thân của con tằm đã nhả hết tơ, giờ chỉ còn lại cái kén rỗng, nhưng không thể hóa thành con ngài để bay đi được. Con ngài còn có đôi cánh để tung lên cùng bầu trời cao rộng, nhưng con người về già lại cúi xuống gần mặt đất hơn, tủi phận hơn, cô đơn hơn. Dù nghệ sĩ khắp nơi vẫn quan tâm tới ông bà, vẫn quà cáp thăm viếng mỗi khi lễ tết, nhưng họ có công việc của họ, đâu thể thường xuyên kề cận, cho nên ông trở thành kẻ lạc loài sau khi sân khấu đã hạ màn. Ông không buồn, chỉ chấp nhận sự thật của tuổi già. Mà ông có tiếc gì nữa, cả một thời trẻ trung đã tung hoành ngang dọc, lừng lẫy các đại bang, làm thầy của biết bao nghệ sĩ, hét ra lửa đó thôi.

Ông chấp nhận sống trong cái kén rỗng cuối đời, hết đi ra sân ngắm cây lại đi vào nhà nằm trên chiếc giường thong thả nhả khói mơ màng. Chỉ có bà, gầy ốm nhưng rất nhanh nhẹn, hoạt bát, chăm sóc ông từ bữa ăn cho tới quần áo, điếu đóm, không hề than van một tiếng. Bà cười móm mém: “Hồi xưa, chính ổng đã dìu dắt tôi vô nghề, dạy tôi viết, chỉnh sửa kịch bản cho tôi. Có cái tên Nhị Kiều cũng nhờ ổng. Món nợ ân tình đó tôi trả mãi vẫn vui lòng”. Ông nghe bà nói, miệng hơi mỉm mỉm một chút, ấy là ông đang cười, đang hạnh phúc. Ông vẫn là người chồng “oai nghi” của bà. Bà nói với ông nhẹ nhàng, trìu mến, chứ không hề gắt gỏng như một số người vợ phải bắt buộc nuôi chồng. Chợt nhận ra một thứ tình vừa là yêu, vừa là bạn, vừa là thầy trò, vừa là sự tri ân.

Ông đã ra đi sau mấy năm nằm liệt giường. Con tằm đã hóa thành ngài hay chưa?…
Tám Vân trong lòng nghệ sĩ

* NSƯT Bạch Tuyết: “Hồi tôi học ở Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, tôi mời bác Tám Vân đến nói chuyện với các giáo sư và sinh viên. Bác nói tiếng Pháp lưu loát, lại trình bày rất giỏi về nghệ thuật cải lương, và còn ca minh họa rất hay khiến ai nấy khâm phục. Bác làm rạng danh cho cải lương, là “người khổng lồ” trong trái tim tôi. Tôi cảm phục hai nhân cách lớn. Một là bác, khi giàu sang không cao ngạo, khi nghèo khổ không than van, cũng không kể lể công trận đã qua. Hai là bác gái Nhị Kiều, một phụ nữ trâm anh mà trót đi theo nghiệp sân khấu nên chấp nhận hoàn cảnh, và một lòng chung thủy tận tụy với chồng”.

* Nghệ sĩ Thanh Tú: “Lúc tôi vào đoàn Thanh Nga chung với ông, ông cho tôi ở nhờ nhà ông tại đường Bùi Viện. Tôi sợ ông còn hơn sợ cha tôi, vì ông dạy nghề rất khó tính. Làm không xong là ông hét dữ lắm. Hơi hám ông rất khỏe nên ông hét là tụi tôi hết hồn. Nhưng thương ở chỗ, hễ dạy tại đoàn chưa xong thì ông về nhà dạy tiếp, ăn cơm xong là bắt tôi tập lại, cho tới khi nào được mới thôi. Ông là người thầy tận tụy của nghệ sĩ trẻ chúng tôi, ai cũng thương và kính trọng ông! Mãi mãi ông vẫn là niềm tin yêu của sân khấu và nghệ sĩ”.

Những vai trò không ai thay thế được

Vai diễn “đo ni đóng giày”

Trong cải lương có những vai trò mà một khi soạn giả đã “đo ni đóng giày” cho một nghệ sĩ nào đó thì coi như vĩnh viễn, hay nói một cách khác là khi một nghệ sĩ đã nổi danh ở một vai trò nào rồi thì sau này người khác đóng rất khó mà được khán giả chấp nhận. Chữ “khán giả” nói ở đây là những người đã từng xem qua vai trò ấy, tuồng ấy ở thời gian trước đó mà về sau có dịp đi coi trở lại.

Thí dụ như soạn giả Hoa Phượng và Ngọc Điệp thời gian cộng tác với đoàn Dạ Lý Hương đã nhắm vào Út Trà Ôn để dựng lên vai trò “Ông Cò Quận 9” trong vở hát “Tuyệt Tình Ca” gây chấn động làng cải lương một dạo, và mãi cho đến bây giờ có ai thay thế được Út Trà Ôn đâu? Đôi khi cũng có những nghệ sĩ khác thủ vai ông cò Quận 9 khi cần diễn lại lớp tuồng trên, nhưng đều bị phê bình không ít thì nhiều, và sau lần đó thì không dám diễn trở lại.

Một trường hợp khác bên gánh Thanh Minh Thanh Nga, soạn giả Yên Ba đã nhắm vào khả năng của nghệ sĩ Thành Được để dựng lên vai trò “độc”. Vai tướng cướp Thy Đằng trong tuồng “Tiếng Hạc Trong Trăng”, dù rằng Thành Được là kép mùi. Thy Đằng là vai độc lẫn mùi mà Thành Được đã xuất sắc thủ vai và về sau chẳng nghệ sĩ nào dám thay thế, sợ rằng như ông cò Quận 9 chăng?

Thêm một trường hợp nữa, trước đó khoảng 5, 6 năm sau khi đoàn Thúy Nga rã gánh, cặp soạn giả Hà Triều, Hoa Phượng đã về cộng tác với đoàn Thanh Minh (thời đó bảng hiệu chưa có chữ Thanh Nga đi kèm).

Vai trò không ai thay thế

Thuở ấy nghệ sĩ Hữu Phước còn rất trẻ đang đảm trách các vai trò kép chánh, kép mùi, thế mà do cái nhìn của cặp soạn giả tài hoa Hà Triều, Hoa Phượng lại nhắm vào kép ca Hữu Phước để dựng lên một “Cậu Tư Kiên” trong vở Con Gái Chị Hằng, và ai đã đi coi rồi thì rất khó quên Cậu Tư Kiên, một ông già miền Lục Tỉnh với bộ bà ba và đầu tóc của Hữu Phước.

Nghệ sĩ Năm Nghĩa. Nghệ sĩ Năm Nghĩa.

Đồng thời cũng phải nhìn nhận rằng với vở tuồng này, vai trò “Cậu Văn” của Thành Được bị lu mờ, do bởi vai Cậu Tư Kiên của Hữu Phước quá xuất sắc.

Nhờ vở hát Con Gái Chị Hằng mà bà Bầu Thơ hốt bạc mệt nghỉ, khai trương hát liên tục cả tháng ở một rạp vẫn còn khán giả. Tuồng đang ăn khách ở sân khấu cải lương thì những nhà khai thác phim ảnh cũng không bỏ lỡ cơ hội, Con Gái Chị Hằng được quay phim vào khoảng 1962, và vai trò Cậu Tư Kiên vẫn là Hữu Phước, dù rằng vai chị Hằng được chuyển sang kỳ nữ Kim Cương.

Những vai trò được nêu lên trên đây đã xuất hiện thời cải lương cực thịnh của thập niên 1960. Và nếu như nhìn về trước đó nữa, thập niên 1940 – 1950 thì có tài tử Năm Nghĩa đóng vai Phạm Công trong tuồng cải lương Phạm Công Cúc Hoa, được vô dĩa hát Asia. Đến lúc đem vở tuồng này lên sân khấu Hậu Tấn, thì Năm Nghĩa vẫn trong vai Phạm Công. Thính giả sẵn hâm mộ giọng ca tài tử Năm Nghĩa trong dĩa hát, nay lại thấy điệu bộ, huê dạng của Năm Nghĩa trên sân khấu, lòng ái mộ càng tăng thêm. Khi xưa “tài tử” là người ca cổ nhạc, nên tiếng gọi “tài tử giai nhân” để chỉ người đờn ca tài tử. Đến khoảng 1956 thì nghệ thuật phim ảnh đã “chiếm đoạt” danh từ “tài tử” của cổ nhạc để gọi người đóng phim rồi xài luôn cho tới bây giờ.

Thời đó nhất định Phạm Công là vai tuồng bất hủ dành riêng cho nghệ sĩ Năm Nghĩa mà thôi, không ai thay thế được. Có lần Năm Nghĩa bị bệnh, vai Phạm Công do nghệ sĩ tài nghệ tương đương thay thế, nhưng khán giả cứ đòi cho được Năm Nghĩa đóng vai họ mới chịu.

Bộ dĩa Phạm Công Cúc Hoa phát hành bán khắp nơi, thính giả quen thuộc Phạm Công Năm Nghĩa. Về sau hãng Asia dẹp tiệm, thì hãng dĩa Hồng Hoa nhảy ra khai thác vở tuồng ăn khách nói trên và mời Út Trà Ôn đóng vai Phạm Công. Nhưng dù là đệ nhứt danh ca, Phạm Công Út Trà Ôn bị thính giả phê bình đủ mọi thứ mà toàn là bất lợi, và dĩa hát bán ra không đủ vốn.

Thông thường nghệ sĩ hữu danh, họ đại kỵ lãnh vai trò của nghệ sĩ tên tuổi khác, nhưng lúc này (sau Mậu Thân) cải lương xuống dốc, nghệ sĩ dù là gạo cội cũng thất nghiệp dài dài. Dẹp tự ái qua một bên, Út Trà Ôn nhận vai Phạm Công để có việc làm, còn hơn là thất nghiệp nằm chờ thời.

Nguồn: tổng hợp, rfa.org