NSƯT Mỹ Châu: Tơ duyên sau bức màn nhung

0
188

Đã hơn hai thập niên rời xa sàn diễn và định cư ở Mỹ, vậy mà hình ảnh Mỹ Châu trên sân khấu cải lương vẫn in đậm trong tâm trí khán giả nhiều thế hệ.

Cuộc đời một cô đào chỉ biết diễn và diễn mỗi ngày bức màn nhung kéo lên đầy hồi hộp, ngỡ rất đơn điệu và tẻ nhạt, nhưng chuyện tình của Mỹ Châu lại khiến mọi người thú vị vì những run rẩy chân thành ở người đeo mang nghiệp cầm ca!

Làm nghệ sĩ là do má chọn

Nghệ sĩ Ưu tú Mỹ Châu sinh ra tại Thủ Thừa – Long An trong một gia đình có bốn anh chị em. Người cha của Mỹ Châu thường được gọi và tự gọi là “cậu Mười” vốn có một trại mộc với thu nhập đủ sống cả nhà, nhưng ông đột ngột qua đời vào năm Mỹ Châu mới 6 tuổi.

Người mẹ mà Mỹ Châu hay gọi là Vú, bỗng dưng góa bụa, đành nuốt hết bẽ bàng và uất hận để mở một sạp hàng ngoài chợ lụi cụi buôn bán nuôi con.

Mỹ Châu khi tập tễnh cắp sách đến trường đã được khen ngợi về tài ca hát. Năm lên 7 tuổi, Mỹ Châu được nghệ nhân Tám Chấn dắt đi thi văn nghệ thiếu nhi ở Nhà hát Tân An và giành được hạng ưu. Từ đó, thỉnh thoảng cô bé Mỹ Châu gầy gò và đen nhẻm được mời hát đám cưới quanh xóm, có trả thù lao đàng hoàng.

Lúc sinh thời, người cha của Mỹ Châu không mấy thiện cảm với những sinh hoạt văn nghệ, nên thường răn đe: “Cậu Mười không thích con gái đờn ca hát xướng đâu nghe! Mấy đứa bây phải lo học! Học cho mau nên người!”.

Thế nhưng, người mẹ lầm lũi của Mỹ Châu lại nghĩ khác khi thấy sự đam mê của con gái út. Năm Mỹ Châu 11 tuổi, bất ngờ vú đi cùng con gái út đến trường để đưa ra một quyết định: “Thưa cô giáo, xin phép cô giáo cho con Châu nó nghỉ học để đi hát cải lương”. Khép lại sách vở, mẹ con Mỹ Châu xuôi đò về Sóc Trăng, theo gánh hát Tiếng Chuông của ông bầu Ba Cang.

Mỹ Châu lúc được phong tặng Nghệ sĩ Ưu tú vào năm 1993.

Hai năm sau, Mỹ Châu có được bản giao kèo trị giá 5 ngàn đồng về với gánh hát Út Bạch Lan – Thành Được. Và rạp Hưng Đạo, nơi được mệnh danh là thánh đường của cải lương Sài Gòn đã chứng kiến những thử thách nghề nghiệp đầu tiên của Mỹ Châu.

Bên cạnh công việc yêu thích là đánh phấn, dặm phấn cho Út Bạch Lan thì Mỹ Châu “từng đi móc cống, dọn cầu trong cái rạp hào nhoáng đó, những việc mà dù sau này đã nở mày nở mặt, Mỹ Châu cũng không dám kể cho vú nghe!”.

Một cơ duyên mang tính bước ngoặc trong cuộc đời Mỹ Châu chính là được mời hát trên Đài phát thanh Sài Gòn. Sau khi nghe Mỹ Châu ca bản tân cổ giao duyên “Nửa đêm sầu hận”, cùng lúc hai ông bầu của hai gánh hát lừng lẫy Kim Chung và Thủ Đô đến chiêu dụ Mỹ Châu. 13 tuổi, Mỹ Châu tạm biệt thần tượng Út Bạch Lan để về gánh hát Thủ Đô với hợp đồng lao động được trả 150 ngàn đồng.

Trong sự cạnh tranh giữa các gánh hát, 2 năm sau Mỹ Châu lại được gánh hát Kim Chung trả lương gấp đôi để rời khỏi gánh hát Thủ Đô. 15 tuổi, Mỹ Châu trở thành đào chánh, tên tuổi nổi như sóng cồn. Và trên sàn diễn Kim Chung, thiếu nữ Mỹ Châu đã có những xao xuyến đầu đời với đồng nghiệp Minh Phụng lớn hơn mình 6 tuổi!

Sau khi diễn chung ăn ý hai vở cải lương “Bình rượu nhiệm mầu” và “Kiếm sĩ người dơi” thì Mỹ Châu và Minh Phụng đều biết “tình trong như đã mặt ngoài còn e”.

Mỹ Châu thổ lộ: “Minh Phụng thương tôi đến mức luôn quanh quẩn, xớ rớ bên tôi, bất kể trên sân khấu hay ngoài đường. Buổi tối, diễn xong, anh ngồi ngó theo tôi thấp thoáng tẩy trang, lui tới trong hậu trường”. Tuy nhiên, vú của Mỹ Châu thì kịch liệt cấm cản cả hai phát triển quan hệ tình cảm.

Không chỉ nói thẳng với Minh Phụng: “Con Châu nó còn rất nhỏ, nó mới có một chút xíu thôi, chứ chưa là gì hết. Con đường tương lai của nó xa lắm. Đừng ngăn trở nó! Đừng có thương nó! Nó không có cái gì hết, của cải, nhà cửa nó không có đứng tên đâu” mà vú còn bắt Mỹ Châu phải bày tỏ thái độ dứt khoát ngay trước mặt bà. Vú ngồi dưới khán đài, còn Mỹ Châu và Minh Phụng cùng “diễn” bi kịch chia ương rẽ thúy trên sân khấu cho người mẹ chứng kiến.

Mỹ Châu nói với Minh Phụng: “Anh ơi, bây giờ vú hổng chịu cho em thương anh. Nếu anh cứ vầy hoài thì phải đổi đoàn đó! Vú không cho em hát chung với anh đâu. Từ rày về sau, anh nghe lời vú đi, anh đừng thương em nữa! Vú không chịu gả, vì Vú nói em còn nhỏ lắm. Mà nếu anh thương em, thì anh cứ đợi…”. Minh Phụng không hồi đáp được lời nào, chỉ khóc. Mỹ Châu cũng khóc.

Dù mối tình đầu như gió thoảng qua song cửa, nhưng Mỹ Châu và Minh Phụng vẫn trân trọng mỗi khi nghĩ về nhau. Minh Phụng không oán cũng không hận. Sau này, Minh Phụng kết hôn với nghệ sĩ Kiều Tiên và sinh ra cô con gái nổi tiếng Y Phụng.

Hơn 50 năm sau ngày bị từ chối trên sân khấu Kim Chung bẽ bàng, Minh Phụng đã thổ lộ trong đêm diễn cuối cùng trước khi qua đời ngày 29-11-2008: “Đời tôi có may mắn lớn trong nghề nghiệp, đó là gặp được cô Mỹ Châu. Thời đó, Mỹ Châu đẹp lắm, nổi danh dữ lắm, ai hát với cổ cũng được lên, chỉ cần hát với cổ là lên. Nếu không có Mỹ Châu, thì không có Minh Phụng hôm nay…”.

Năm 1967, Mỹ Châu đoạt giải thưởng danh giá Thanh Tâm và có tất cả những điều mà một nghệ sĩ cải lương ao ước từ tên tuổi đến tiền bạc. Thế nhưng, rung động trái tim của Mỹ Châu thì vẫn bị giám sát bởi người mẹ kiêm… quản lý.

Vú thường xuyên nhắc nhở mỗi khi có bóng dáng nam nhân nào đó lọt vào đôi mắt Mỹ Châu: “Con nên nhớ là đã bước chân vô nghề này thì phải đi tới nơi, về tới chốn. Đừng vì chuyện yêu đương này nọ mà buông xuôi, bỏ dở sự nghiệp, ở dưới quê người ta cười con. Con biết không, lấy chồng rồi thì phải đẻ con, đang hồng tươi mơn mởn vậy, không giữ được sắc vóc nữa, hát hò gián đoạn hết. Sinh đẻ rồi, xấu xí bê bối lắm. Con lấy người ngoài nghề còn đỡ, lấy người trong nghề thì cả hai người đều mất khán giả. Khán giả sụp đổ liền! Vú thấy người trong nghề mau chán nhau lắm, con à!”.

Năm Mỹ Châu 25 tuổi, người mẹ mới mở cửa tự do: “Bây giờ thì Vú tùy con đó!”, nhưng nhiều người mang lễ vật đến dạm hỏi vẫn không khiến Mỹ Châu xiêu lòng.

Sau năm 1975, Mỹ Châu vẫn là một ngôi sao cải lương được săn đón trong các chuyến lưu diễn. Đàn anh Thành Được không ngần ngại biểu dương: “Mỹ Châu là một nghệ sĩ rất đặc biệt. Mặc dù xinh đẹp, nổi tiếng, tiền bạc vô như nước nhưng Mỹ Châu vẫn sống một cuộc đời trầm lặng, không bon chen hay ồn ào như nhiều người khác!”.

Duyên tiền định

Khi đầu quân ở đoàn cải lương Trần Hữu Trang, Mỹ Châu đã gặp lương duyên tiền định: nghệ sĩ Đức Minh, nhỏ hơn Mỹ Châu 2 tuổi. Tuy không xuất chúng bằng Mỹ Châu, nhưng Đức Minh cũng từng là một kép chánh của gánh hát Trường Sơn và gánh hát Trùng Dương.


Vợ chồng nghệ sĩ cải lương Đức Minh – Mỹ Châu.

Nghệ sĩ Đức Minh cũng từng đoạt Huy chương Vàng tại Hội diễn cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985. Nghệ sĩ Đức Minh từng có một cuộc hôn nhân đổ vỡ trước khi gặp Mỹ Châu. Họ đứng chung sân khấu với nhau qua các vở “Nàng Hai Bến Nghé”, “Tiếng sáo đêm trăng”, “Mùa thu trên non cao”, “Hai phương trời thương nhớ”… và càng ngày càng gắn bó.

Năm 1990, Mỹ Châu và Đức Minh làm đám cưới tại tư gia, theo yêu cầu của khán giả muốn… đến xem để chung vui. Ngày tân hôn, người đông nghịt lớp trong lớp ngoài chen lấn kẹt cứng cả một đoạn đường Lê Quang Định gần chợ Bà Chiểu, đôi tân lang tân nương Mỹ Châu – Đức Minh phải ra đứng ban công tầng ba để vẫy tay chào giới mộ điệu.

Nghệ sĩ Đức Minh gọi vợ là “cô Năm Thủ Thừa”. Dù thường đùa kiểu cắc cớ “Bộ em tưởng là anh sung sướng lắm sao? Buồn lắm đó, cưới xong mà ai nấy đi hát liền, không có trăng mật trăng mà gì hết. Buồn mà hổng nói ra đó nghe”, nhưng nghệ sĩ Đức Minh chân thành về sự chọn lựa hiền thê của mình: “Anh thương em vì em có hiếu. Thương anh thì phải biết thương cha mẹ và các con của anh. Hồi trước anh chia tay với một người chỉ vì anh thấy bộ quần áo con nít đẹp nên nhờ cổ mua. Cổ đi một vòng rồi về nói người ta bán mất rồi. Hôm sau anh ra chợ thấy bộ đó còn y nguyên, anh biết vậy là cổ không thương con anh!”.

Thời son trẻ của Mỹ Châu, người mẹ vẫn tỉ tê: “Vú không muốn con lấy chồng, vì con giống vú, quá bền lòng chặt ý với một người, quá thủy chung. Nếu con gặp người vô chung vô thủy thì con sẽ khổ. Vú không muốn con khổ như thế, chứ không phải không cho phép con lấy chồng!”. Thật may cho Mỹ Châu, vì nghệ sĩ Đức Minh yêu vợ đến mức tôn thờ.

Mỹ Châu thổ lộ: “Đức Minh thay đổi tôi gần 180 độ. Anh xốc tôi từ một người khép kín, rụt rè, chỉ biết loanh quanh với sân khấu thành một bà trẻ vui vẻ, vi vu xe máy cùng chồng ăn quán cóc, cười rất nhiều, giữa đường thấy trời đổ mưa còn thích vọc nước mưa, biết chỗ nọ chỗ kia ở Sài Gòn”.

40 tuổi mới lấy chồng, Mỹ Châu không có con với Đức Minh, nên dành hết tình thương cho mấy đứa con riêng của chồng. Năm 2003, vợ chồng Mỹ Châu sang Mỹ định cư, sống gần như ẩn dật với mọi thị phi nghệ thuật. Năm 2014, nghệ sĩ Đức Minh qua đời, Mỹ Châu đưa hài cốt của đức lang quân về cố hương Cồn Phụng- Bến Tre để người chồng quá cố được nằm bên cạnh mẹ ruột!

Đào Tấn: Ông vua của nghệ thuật tuồng

Đào Tấn tự Chỉ Thúc, hiệu Mộng Mai, Mai Tăng – là nhà thơ, nhà từ khúc, nhà soạn tuồng xuất sắc của đất Bình Định, được sân khấu hát bội cả nước tôn vinh là Hậu Tổ.

Ông sinh ngày 3-4-1845 tại làng Vinh Thạnh, tổng Nhơn Ân, phủ Tuy Phước (Bình Định). Từ thuở nhỏ, ông được thụ giáo với thầy Nguyễn Diêu – tác giả của nhiều vở tuồng như Ngũ hổ bình Liêu, Võ Tam Tư chém cáo… chịu ảnh hưởng của thầy nên lúc còn đi học, ông cũng đã tập viết tuồng. Một trong những vở tuồng đầu tiên ông viết năm 19 tuổi còn lưu lại đến ngày nay là Tân Dã đồn.

Cả đời cầm bút, Đào Tấn đã viết trên 30 vở tuồng mà sau này nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký đã nhận định: “So với những vở tuồng đã viết trước thời ông thì Đào Tấn đã phá vỡ và đưa con người gần với cuộc sống hơn, mang tính chất mới của chủ nghĩa lãng mạn.

Việc này, ông Nguyễn Diêu (thường gọi là tú tài Nhơn Ân) đã làm, đến Đào Tấn thì mới đứng vững và thành trào lưu; nhân vật chính của Đào Tấn không phải là con người cung đình. Văn tuồng Đào Tấn rất hay, ông đã nâng văn tuồng lên mức văn học”.

Còn nhà thơ Xuân Diệu lại nhìn thấy: “Người viết tuồng Đào Tấn và người làm từ khúc Đào Tấn là một, có người tâm hồn bên trong dào dạt mà viết từ, mới có người hành động xã hội bằng viết tuồng. Người viết tuồng Đào Tấn phấn đấu để viết tuồng cho tốt, cho có tác dụng xã hội, đồng thời người làm từ Đào Tấn lắng nghe tâm hồn mình, tâm trạng mình…”.

Năm 22 tuổi, Đào Tấn thi đậu cử nhân, 4 năm sau ông được giữ chức Kiểm tịch rồi sung chức Hiệu thư ở Huế. Tài năng của ông phát tiết trong thời gian này. Ông soạn thảo các kịch bản tuồng theo mệnh lệnh của vua Tự Đức như Đảng khấu, Bình địch, Tam bảo thái giám thủ biểu…

Năm 29 tuổi ông được thăng chức Biên tu rồi được bổ nhiệm làm Tri phủ Quảng Trạch. Sau đó, ông còn đảm nhậm nhiều trọng trách khác. Năm 33 tuổi, Đào Tấn đã phụng sắc các vở tuồng như Từ quốc lai vương, Quần trân hiến thụy và hoàn thành vở Vạn bửu trình tường.

Soạn giả Đào Tấn.

Cuộc đời làm quan của Đào Tấn khá suôn sẻ, suốt 30 năm trong chốn quan trường – trừ 2 lần đi làm Tổng đốc An Tịnh (10 năm), làm Tri phủ Quảng Trạch (2 năm) thì ông đã sống trọn vẹn ở Huế 18 năm. Sau khi vua Tự Đức băng hà, ông xin treo ấn từ quan. Nhưng rồi lúc Đồng Khánh lên ngôi, ông được gọi ra làm quan trở lại.

Nói như nhà thơ Hoàng Trung Thông: “làm quan là cái xác, làm thơ là cái hồn”. Bất đắc dĩ phải làm quan, ông đã trút tâm sự qua câu đối đề tại quan xá của mình (dịch nghĩa): “Vua nhắm sức kẻ bày tôi mà giao việc/ Còn kẻ tiểu nhân này có mẹ, vì phải nuôi mẹ mà đã làm quan”.

Và khi làm quan, thái độ của ông đối với hiện tình đất nước thật rạch ròi, minh bạch. Lúc ngồi ghế Phủ doãn Thừa Thiên, ông đã nhiều lần bộc bạch tâm sự ghét Tây và bọn theo Tây hà hiếp nhân dân.

Bọn quan nhu nhược nhiều lần khuyên can ông: “Bực tức mà làm gì? Không khéo ông Phủ cũng mất chức thôi. Ông cứ lo soạn tuồng chứ hơi đâu mà để ý vào những chuyện nhiễu nhương đó?”.

Vốn là người khí khái, nghe vậy, ông đập bàn quát lớn: “Sống ở đời thấy chuyện ngang trái không trị thì còn mặt mũi nào dạy dỗ thiên hạ trong tuồng?”.

Trong tác phẩm L’Empire d’Annam của đại úy Charles Gosselin từ trang 465 đến 468 có đoạn hội kiến với Đào Tấn. Tác giả viết: “Với chủ nhân ông cao đàm phong lưu như Đào tổng đốc, thì cuộc đàm thoại không bao giờ nguôi, càng ngồi nói chuyện lâu càng thêm hứng thú. Đại nhơn biết tôi thích nghe chuyện nước nhà, chuyện xảy ra trong xứ, nên đại nhơn vẫn chọn những đề tài như vậy đem ra bàn bạc, nên cuộc hội diện hôm nay lấy làm phấn khởi. 

Đào Tấn đại nhơn vốn là một cựu thần túc nho, khi tiên đế Tự Đức còn tại vị vẫn mười phần ưu ái, ba phen giữ trọng nhiệm thượng thư trong nhiều triều đại liên tiếp, đại nhơn vẫn chủ trương hợp tác vì dư biết hai nước bắt tay nhau càng thêm có lợi cho cả đôi bên.

Một đời tận tụy trong nhiều chức vụ quan trọng, Đào Tấn vẫn tay trắng thanh bần, bao nhiêu ấy đủ danh thơm hậu thế và làm cho đại nhơn vượt lên trên hẳn nhiều đồng liêu khác ít được gương mẫu như đại nhơn”.

Có lẽ tác giả bài viết này vẫn chưa hiểu rằng, Đào Tấn vượt lên các đồng liêu khác, còn chính ở thái độ của ông đối với thời cuộc. Dù không trực tiếp tham gia kháng chiến nhưng Đào Tấn là vị quan có tinh thần ái quốc và trực tiếp giúp đỡ những người kháng chiến.

Vào năm 1901, nhân ngày quốc khánh Pháp 14-7, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình có kế hoạch cướp vũ khí giặc để đánh thành Nghệ An. Do bị chỉ điểm, công việc bại lộ. Bấy giờ Đào Tấn là Tổng đốc Nghệ An ra sức che chở, nếu không thì Phan Bội Châu đã bị bắt.

Tháng 11-1902, để bắt liên lạc với các đồng chí, Phan Bội Châu đã xin Tổng đốc Đào Tấn giấy thông hành đi khắp Bắc Kỳ, nhờ vậy cụ Phan mới làm được công việc của mình.

Rồi khi anh hùng Phan Đình Phùng tạ thế, nhân danh sĩ phu Nghệ An, Đào Tấn đã viết câu đối khóc “đấng trượng phu” mà “trời đất cổ kim còn mãi” và khẳng định: “Rõ thật tùng mai khí tiết, tinh thần một thác sáng trăng sao”.

Ngoài việc che chở cho những người kháng chiến, Đào Tấn còn khẳng khái làm thơ khóc những người hy sinh vì nước như Hoàng Kế Viêm, Hoàng Diệu…

Rõ ràng, Đào Tấn đã sống và hành động như những nhân vật anh hùng trong các vở tuồng mà ông đã viết. Nhà thơ Xuân Diệu từng nói: “Tình hình nước nhà lúc ấy, là nước đã mất, nhiều cuộc khởi nghĩa đã thất bại, vô hạn khó khăn đang bao bọc những người yêu nước, cứu nước. Tuồng Đào Tấn đã giáo dục một cách kiên trì sự bền bỉ chiến đấu, sự trong sáng hy sinh”.

Những câu hát trong tuồng của ông như: “Lao xao sóng vỗ ngọn tùng/ Gian nan là nợ anh hùng phải vây”; hoặc “Tấm thân liều gởi cung dâu/ Đố con lương mã biết đâu là nhà?”; hoặc: “Quạnh quẽ tình riêng dạ khó khuây/ Chày sương lộp độp trống canh chầy/ Ngựa hồ hí gió nghe dồn dập/ Giọt lệ hùng anh gạt lại đầy” đã ít nhiều phản ánh tâm trạng của chính ông muốn gửi lại cho người đương thời và hậu thế.

Có thể nói, trong suốt cuộc đời làm quan, chưa bao giờ Đào Tấn rời cây bút và trường hát. Ông là người đầu tiên thành lập các đội tuồng chuyên nghiệp – họ được hưởng lương và cấp bậc. Ông cũng là người đầu tiên mở trường đào tạo diễn viên chính quy ở Nghệ An, Bình Định…

Điều này đã tạo thành một hệ thống, một phong cách hoàn chỉnh nhằm nâng cao nghệ thuật diễn tuồng. Trường dạy nghề hát bội của Đào Tấn có tên Học bộ đình và rạp hát do ông xây dựng có tên Như thị quan. Trước cửa rạp ông đã cho treo câu đối để gửi tâm sự của mình và đó cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của Đào Tấn (Xuân Diệu dịch):

Trời chẳng cho nhàn, tìm chút thảnh thơi trong bận rộn;
Việc đời như kịch, chớ cười trong giả ấy không chân.

Và phương châm nghệ thuật của ông là “Tùy xứ khôi hài/ Phùng trường tác hý” nghĩa là: Tùy chỗ, tùy đối tượng mà hài hước, châm biếm, chứ không nên hài hước, châm biếm lung tung. Tùy hoàn cảnh sân khấu mà diễn, mà viết, mà xử lý nghệ thuật cho thích hợp (Vũ Ngọc Liễn dịch nghĩa).

Trong thời gian ở Nghệ An (1889-1893), Đào Tấn đã sửa tuồng Tam nữ đồ vương và đổi tựa thành Khuê các anh hùng, rồi chỉnh lý lại các vở tuồng Sơn Hậu, Phi Phụng v.v… Sức làm việc của ông thật khủng khiếp, ngoài mấy trăm bài thơ, từ khúc, còn có tới khoảng 30 vở tuồng mà Đào Tấn để lại cho hậu thế. Có những vở dài đến 100 hồi, diễn tới 100 đêm như Vạn bửu trình tường, Quần trân hiến thụy.

Chính vua Tự Đức – một ông vua hay chữ – cũng phải nghiêng mình thán phục là “bút pháp như thần”. Sức sáng tạo tuyệt vời của ông, cho đến nay vẫn chưa có mấy ai sánh kịp. Không phải ngẫu nhiên, lớp hậu sinh đã gọi Đào Tấn là “ông vua của nghệ thuật tuồng”.

Ngoài việc sáng tác tuồng là hoạt động nghệ thuật chủ yếu, ông còn sáng tác nhiều thơ văn được tập hợp lại trong các tập Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai thi tồn, Mộng Mai từ lục, Mộng Mai văn sao.

Năm 1904, lúc tròn 60 xuân, nhân có chuyện xích mích với Nguyễn Thân – Thượng thư Bộ lại – Đào Tấn xin về hưu. Từ đấy, ông trở lại quê nhà, vẫn lấy việc nuôi dạy kép hát làm vui. Lúc về hưu, triều đình Huế cấp cho ông 4 mẫu lộc điền.

Tác phẩm của Đào Tấn.

Với số ruộng này thì gia đình ông có thể sống ung dung nhưng vì phải cưu mang thêm hơn 20 kép hát nên ông mới bán dần đi. Sau đó, ông lại rủ thêm những quan hưu khác cùng quê vỡ hoang vùng đầm nước mặn làng Huỳnh Giảng (xã Phước Hòa ngày nay) thành đồng ruộng để canh tác.

Ruộng này được gọi tên là: “Quy canh” – đồng ruộng của những ông quan về đi cày. Lại có giai thoại kể rằng: nhân ngày giỗ cha, Đào Tấn không mâm cao cỗ đầy như những nhà giàu khác mà bằng chính thành quả lao động nghệ thuật của mình. Ông đã giỗ cha bằng cách cho các nghệ sĩ trong Học bộ đình ở Vinh Thanh biểu diễn vở tuồng do chính ông sáng tác.

Nếu nhà thơ tài hoa Cao Bá Quát tự nhận “Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (suốt đời chỉ cúi đầu trước hoa mai) thì Đào Tấn cũng có ước nguyện như thế. Ông đặt tên hiệu là Mộng Mai, đặt tên vườn là Mai với câu đối (dịch):

Dùng chữ của tên mình đặt tên cái vườn,
Vừa có duyên phận, vừa có tình ý.

Và tâm sự:

Núi Mai rồi giữ xương Mai nhé,
Ước mộng hồn ta là đóa Mai.

Ngày rằm tháng 7 năm 1907 ông vua của nghệ thuật tuồng, nghệ sĩ Đào Tấn, đã nhắm mắt xuôi tay, từ giã cuộc đời, thọ 63 xuân. Đúng như ước nguyện, ông được an táng trên núi Huỳnh Mai – cách vườn mai của ông chừng vài cây số.

Từ nhiều năm nay, đã có nhiều hội nghị khoa học nghiên cứu về Đào Tấn được tổ chức. Trong tập Kỷ yếu Đào Tấn nhà thơ, nghệ sĩ tuồng xuất sắc (Ty VHTT Nghĩa Bình, 1978), các tác giả đã phân tích được những nét lớn trong sự nghiệp sáng tác của Đào Tấn.

Đó là so với tuồng cổ, Đào Tấn xây dựng được những nhân vật gần với cuộc sống hơn. Tác phẩm của ông phản ánh được hiện thực lịch sử thời đại, đáp ứng được yêu cầu của thời đại và nâng văn học tuồng lên một trình độ bác học…

Đào Tấn lớn và trường tồn ở chỗ ông đã sáng tạo được một phương pháp sáng tác mới, phương pháp này vừa kế thừa vốn cổ, vừa phát triển cái mới. Chắc chắn các thế hệ sau vẫn còn tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu di sản đồ sộ và quý báu của Đào Tấn để lại.

Nguồn: antgct