Những “thầy tuồng” lừng danh: Cặp đôi ăn ý Hà Triều – Hoa Phượng

0
127

Tên tuổi của 2 ông gắn liền nhau như một thể thống nhất trong các tuyệt phẩm cải lương không bao giờ phai mờ trong lòng khán giả mộ điệu và nghệ sĩ

Khác với các loại “tuồng tiên”, “kiếm hiệp kỳ tình” một thời khiến khán giả cải lương chán ngán, sự xuất hiện của cặp liên danh soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng đã làm nên những kiệt tác để đời.

Cho dù 2 ông đều đã “về trời” nhưng bút pháp tài hoa trong những tác phẩm mà 2 ông để lại cho sân khấu cải lương như: Khi hoa anh đào nở, Thái hậu Dương Vân Nga, Con gái chị Hằng, Mưa rừng, Tấm lòng của biển, Sông dài, Nửa đời hương phấn, Tuyệt tình ca, Mùa xuân trên non cao, Tần nương thất, Cô gái Đồ Long… không bao giờ phai mờ trong lòng khán giả mộ điệu và nghệ sĩ cải lương.

Kỳ phùng hội tụ

NSND Lệ Thủy nhận xét: “Chất văn học đậm đà trong từng lời ca, từng câu thoại mà 2 ông viết ra đã rót vào tim nghệ sĩ chúng tôi niềm cảm xúc mãnh liệt”. Bút pháp của Hà Triều – Hoa Phượng, theo nhận định của giới chuyên môn, luôn giữ vững phương pháp tả thực tâm lý xã hội sâu sắc. Tên tuổi của 2 ông gắn liền nhau như một thể thống nhất.

Là người xuất thân từ gia đình lao động, 2 soạn giả đến với sân khấu cải lương không vì ham danh vọng mà vì yêu quý nghệ thuật cải lương. Họ là đại diện trong số những soạn giả hiếm hoi không chịu uốn cong ngòi bút trước cường quyền hay sự cám dỗ của tiền bạc để tác phẩm không bị hoen ố. Hai ông theo đuổi sân khấu cải lương với ý thức xây dựng và phát triển nó ngày càng tốt đẹp hơn, trong nền nghệ thuật dân tộc Việt, đúng với tinh thần: “Cải cách hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tích sánh văn minh”.

Nghệ sĩ Thanh Thanh Hoa và NSƯT Hùng Minh trong vở Tấm lòng của biển - một trong những tác phẩm của 2 soạn giả Hà Triều - Hoa PhượngNghệ sĩ Thanh Thanh Hoa và NSƯT Hùng Minh trong vở Tấm lòng của biển – một trong những tác phẩm của 2 soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Soạn giả – NSND Viễn Châu nói: “Hai ngòi bút này khẳng định nguồn gốc lành mạnh của cải lương để phát triển theo xu hướng xây dựng chứ không đả phá. Được xem là kỳ phùng hội tụ, họ bổ sung cho nhau. Nếu Hoa Phượng phóng khoáng, đẩy mạnh cao trào, tung hứng với những lời thoại, câu ca xoáy sâu vào đời sống thực tế thì Hà Triều có những niêm luật chỉn chu, sắp xếp, điều chỉnh rất hài hòa, nhẹ nhàng mà tinh tế. Họ hợp soạn ăn ý, chỉ cần đọc qua màn đầu Hoa Phượng viết thì màn sau Hà Triều đã phát triển thành một mạch kịch liền lạc, súc tích. Cứ thế, họ cho ra đời hàng trăm tác phẩm được xem là kiệt tác của sân khấu cải lương đương đại”.

Theo soạn giả Lê Duy Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hà Triều – Hoa Phượng luôn nắm vững nguyên tắc phát triển hình thức là để thể hiện tốt nội dung. Hai ông chú trọng nội dung, đồng thời cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hình thức thể hiện bởi hai mặt này có quan hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau.

Nhân cách lớn

“Lịch sử sân khấu cải lương hơn 90 năm đã cho thấy khi sàn diễn phồn vinh, các soạn giả đua nhau chạy theo hình thức phô trương với đủ chiêu thức; ngược lại, khi sàn diễn lâm vào cảnh khó khăn thì nhiều soạn giả tìm phương cứu vãn bằng cách tăng cường tính thị hiếu, đôi lúc rẻ tiền. Theo Hà Triều – Hoa Phượng, những việc làm này gây tác hại lớn cho sự nghiệp sân khấu cải lương nói chung và ý thức sáng tác kịch bản nói riêng” – ông Lê Duy Hạnh nhận định.

Nhân cách lớn của 2 soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng còn nằm ở cuộc sống giản dị, luôn làm gương cho nghệ sĩ. Hai ông đã “đo ni đóng giày” vai diễn cho nhiều nghệ sĩ. NSƯT Thanh Sang kể: “Hai ông đã cho tôi vai Tạ Tốn (vở Cô gái Đồ Long) để tôi nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1964”. Còn với nghệ sĩ Hồng Nga: “17 tuổi, tôi đã đóng vai mẹ nên buồn lắm nhưng 2 ông khuyên hãy ráng diễn vai này rồi sẽ nổi tiếng. Và vai cô giáo Lan trong vở Tuyệt tình ca đã mang lại cho tôi rất nhiều tình cảm của công chúng. Tôi mang ơn 2 ông”.

Thật vậy, nếu lời ca, nét nhạc là những yếu tố căn bản của cải lương thì 2 soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng đã hiểu sâu hàm ý đó và nắm vững nghệ thuật ca diễn để nghiên cứu từng bài bản, đặt vừa mức cho mỗi trường hợp cụ thể. Chính vì thế, tính chất nghệ thuật cải lương trong tác phẩm của 2 ông vừa mang truyền thống vừa hiện đại. Cho đến ngày nay, những kịch bản của 2 ông vẫn được xem là khuôn mẫu cho thế hệ soạn giả trẻ nghiên cứu, học hỏi.

NSƯT Út Bạch Lan tâm sự: “Những tác phẩm như: Đêm vĩnh biệt, Nửa đời hương phấn, Sông dài, Con gái chị Hằng, Tấm lòng của biển, Mưa rừng, Rồi 30 năm sau… đã là những kiệt tác tự hào cho sân khấu cải lương”.

Như Bá Nha – Tử Kỳ

Soạn giả Hà Triều tên thật là Đặng Ngươn Chúc, sinh năm 1931, tại làng Vĩnh Uy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Năm 1955, Hà Triều gặp lại một người bạn cũ là Hoa Phượng – tên thật là Lương Kế Nghiệp (sinh năm 1933 tại Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) – lúc này cũng đang lưu lạc lên Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Hai ông gặp nhà thơ Kiên Giang và được gợi ý hợp tác với nhau viết kịch bản cải lương. Năm 1957, nhà thơ Kiên Giang đặt Hà Triều – Hoa Phượng viết vở Khi hoa anh đào nở khai trương cho Đoàn Cải lương Thúy Nga trình diễn tại rạp Nguyễn Văn Hảo (tức rạp Công Nhân ngày nay). Đây cũng chính là vở hát đã đưa tên tuổi nghệ sĩ Thành Được lên hàng “ngôi sao” cải lương với vai Tô Điền Sơn.

Soạn giả Hà Triều (trái) và soạn giả Hoa PhượngSoạn giả Hà Triều (trái) và soạn giả Hoa Phượng

Năm 1965, Đoàn Dạ Lý Hương diễn vở xã hội Nỗi buồn con gái (hay Tần nương thất) của 2 ông được ban tuyển chọn giải Thanh Tâm bình chọn và trao giải Vở cải lương hay nhất trong năm. Qua 10 năm (1955-1965), “liên danh” Hà Triều – Hoa Phượng đã viết chung khoảng 50 vở diễn. Từ những kịch bản đó, nhiều nghệ sĩ đã thành danh và đoạt các giải thưởng cao quý của giải Thanh Tâm như: Thành Được, cố NSƯT Thanh Nga, nghệ sĩ Văn Chung, cố nghệ sĩ Tấn Tài, NSƯT Thanh Sang, NSND Bạch Tuyết, NSND Ngọc Giàu, NSƯT Thanh Tuấn, NSND Lệ Thủy, NSƯT Minh Vương, nghệ sĩ Hồng Nga, NSƯT Thanh Nguyệt, cố nghệ sĩ Kim Ngọc, nghệ sĩ Mộng Tuyền…

Soạn giả Hoa Phượng mất năm 1984, còn Hà Triều mất năm 2003 nhưng nghệ sĩ và người thân của 2 ông đã quyết định chọn ngày 22-10 hằng năm làm ngày giỗ chung cho đôi bạn tri kỷ, gắn bó nhất của sân khấu cải lương như Bá Nha – Tử Kỳ này.

Những “thầy tuồng” lừng danh: Giương cao ngọn cờ tả thực xã hội!

Họ là những soạn giả lừng danh, sáng tác biết bao kịch bản cải lương giá trị lay động lòng người nhiều thế hệ. Họ được xem là những “thầy tuồng” đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp sân khấu truyền thống Việt Nam

Với soạn giả Trần Hữu Trang, có được một củ khoai lang lót dạ buổi sáng, một bữa cơm ăn cùng anh em hậu đài đã là hạnh phúc lắm rồi.

Đời cô Lựu, Lan và Điệp, Tô Ánh Nguyệt là những vở cải lương nổi tiếng, đến mức hầu như người Việt Nam nào cũng biết tên nhưng không hẳn ai cũng nhớ tác giả của chúng – soạn giả Trần Hữu Trang. Bút pháp của ông thể hiện trong từng lời ca, câu thoại đậm chất nhân văn, thấm nhuần tư tưởng đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp.

Anh thợ hớt tóc mê cổ nhạc

NSND soạn giả Viễn Châu nhớ lại: “Anh Tư Trang (soạn giả Trần Hữu Trang) là người có học, ham đọc sách, rành chữ nho. Từ thuở nhỏ, do đã có chí hướng thoát khỏi kiếp nông nô nên sau khi lập gia đình, anh rời quê ra tỉnh làm thợ hớt tóc. Ở Mỹ Tho, Tư Trang gặp Nguyễn Công Mạnh, người khuyến khích anh gắn với phong trào đờn ca tài tử. Từ phong trào này, anh đã đam mê cổ nhạc rồi từng bước dấn thân vào sự nghiệp sáng tác”.

Theo soạn giả Viễn Châu, ít ai biết mẹ của NSND Nguyễn Thành Châu (Năm Châu) và mẹ của soạn giả Trần Hữu Trang là chị em ruột. Khi nghệ sĩ Năm Châu bước vào thế giới cải lương, khoảng năm 1929, thì Trần Hữu Trang được ông giới thiệu vào gánh hát Trần Đắc, giữ chân bán vé và chép tuồng.

NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương trong vở Tô Ánh Nguyệt của tác giả Trần Hữu TrangNSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương trong vở Tô Ánh Nguyệt của tác giả Trần Hữu Trang

Trần Hữu Trang đến với cải lương đúng vào thời điểm loại hình nghệ thuật này đang phồn thịnh. Các gánh hát lớn như: Tân Thinh, Tập Ích ban, Văn Hý ban, Tái Đồng ban, Phước Cương, Huỳnh Kỳ, Trần Đắc… đã gây tiếng vang trên các sân khấu từ Nam ra Bắc. Sống ở Mỹ Tho, chiếc nôi hoạt động văn hóa nghệ thuật lúc bấy giờ, ông đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước. Trong giai đoạn 1926-1928, ông là một trong những người hăng hái đấu tranh đòi chính quyền thực dân thả nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, hưởng ứng những buổi diễn thuyết của cụ Phan Chu Trinh. Có lần, một chiến sĩ cách mạng bị mật thám bám riết, phải chạy vào hiệu hớt tóc của Trần Hữu Trang. Ông đã che giấu và còn tặng 20 đồng làm lộ phí.

NSND Viễn Châu cho biết soạn giả Trần Hữu Trang có một người bạn tham gia phong trào đấu tranh chính trị, bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo với mức án 15 năm. Người vợ ở nhà lấy chồng khác, đem con giao cho Trần Hữu Trang nuôi dạy. Chi tiết này được ông đưa vào kịch bản cải lương Đời cô Lựu và Chị chồng tôi. Trong thời gian Trần Hữu Trang gắn bó với gánh hát Phụng Hảo của NSND Phùng Há, chiến sĩ cộng sản Nguyễn Chí Diểu đã từng đến gặp ông để trao đổi về khuynh hướng sáng tác “tả thực xã hội” – một phong cách sáng tác mà cho đến nay vẫn là kim chỉ nam của nhiều thế hệ soạn giả.

Có tài nhưng không tật

Các thế hệ nghệ sĩ và soạn giả tài danh đều nhìn nhận soạn giả Trần Hữu Trang là một người có cuộc sống giản dị. Ông không vướng vào bất cứ thói hư tật xấu nào.

Theo soạn giả Kiên Giang, khác với nhiều văn nghệ sĩ hễ “có tài là có tật”, soạn giả Trần Hữu Trang là người đầy tài năng nhưng không có tật xấu. Từ khi biết nhau cho đến lúc soạn giả Trần Hữu Trang lìa đời (20-11-1966), soạn giả Kiên Giang thấy ông chưa bao giờ là người giàu có, dù kịch bản được nhiều đoàn dàn dựng.

“Các gánh hát ít vốn thời đó đến nhờ giúp kịch bản, anh thường không lấy tiền. Với anh, có được một củ khoai lang lót dạ buổi sáng, một bữa cơm ăn cùng anh em hậu đài đã là hạnh phúc lắm rồi. Trang phục thường dùng của anh là bộ bà ba trắng. Anh không thuộc số soạn giả ham rượu chè. Tôi học ở anh sự ngăn nắp, trật tự trong đời sống cũng như công việc. Anh thường sáng tác trong nhà hát. Anh chú ý từng dấu chấm phẩy, nét chữ rõ ràng. Nhờ quá trình làm nghề chép vở nên anh là soạn giả nổi tiếng có bản thảo chu đáo và nét chữ đẹp. Đắt giá hơn là cách anh sử dụng bài bản cải lương đúng tình huống, đúng lớp lang. Chúng tôi quen gọi anh là “Tam Tạng” vì cái tên Trần Hữu Trang và cũng vì cá tính hiền lành của anh” – soạn giả Kiên Giang tiết lộ.

“Hầu hết các vở của soạn giả Trần Hữu Trang đều có giá trị “tả thực xã hội” sâu sắc. Ông là người giương cao ngọn cờ “tả thực xã hội” và kiên trì với đường lối sáng tác này, không bị ngả nghiêng trước những đợt gió đổi chiều trong xã hội. Những tác phẩm đó cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự” – NSND Ngọc Giàu đúc kết.

Soạn giả Trần Hữu Trang SN 1906 tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình nông dân. Kịch bản đầu tay Lửa đỏ lòng son của ông sáng tác vào năm 1928. Những năm 1930, ông cho ra đời hàng loạt sáng tác: Tô Ánh Nguyệt (1934), Lan và Điệp (1936), Đời cô Lựu (1937). Ông cộng tác với các gánh hát Trần Đắc, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Năm Châu. Những sáng tác sau đó của ông như: Tìm hạnh phúc, Mộng hoa vương, Chị chồng tôi, Tình lụy, Khi người điên biết yêu – cộng tác với Năm Châu, Lê Hoài Nở – đã tạo nhiều dấu ấn.

Những “thầy tuồng” lừng danh: Giương cao ngọn cờ tả thực xã hội!

Soạn giả Trần Hữu Trang được nhà nước truy tặng Huân chương Thành đồng và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (năm 1996). Tên ông còn được đặt cho một con đường, một ngôi trường ở TP HCM. Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang và giải thưởng Trần Hữu Trang do Hội Sân khấu TP HCM tổ chức là sự ghi công ông trong lĩnh vực sân khấu cải lương

Nguồn: laodong