Những gia tộc cải lương lừng danh: Gánh hát Phước Cương diễn trên đất Pháp

0
222

Cũng có một gia tộc cải lương bề thế với 4 đời truyền nghề, và trong 4 đời đó đều sinh ra những nghệ sĩ nổi tiếng lừng lẫy. Đặc biệt, gánh hát Phước Cương của gia tộc từng gây chấn động với chuyến lưu diễn trên đất Pháp.

Bà Ba Ngoạn (Lưu Thị Ngoạn) và vua Thành Thái /// Ảnh: tư liệu gia đình

Bà Ba Ngoạn (Lưu Thị Ngoạn) và vua Thành Thái

Cô đào Ba Ngoạn và chuyện tình với vua Thành Thái

Thế hệ đầu tiên là bà cố của NSND Kim Cương mà Kim Cương không còn nhớ tên, chỉ gọi là bà bầu Phước Thắng. Vì bà mê hát bội, nên dù không biết hát bà vẫn thành lập gánh hát bội Phước Thắng cho thỏa lòng, vào khoảng năm 1900. Gánh này lừng lẫy ở vùng Chợ Lớn – Sài Gòn và bà bầu nổi tiếng uy nghiêm, người ta thường gọi là “bà lớn”.

Gánh Phước Thắng truyền lại cho bà Ba Ngoạn (bà nội của NSND Kim Cương), đổi tên là Phước Xương vào khoảng đầu thập niên 1910. Cô đào Ba Ngoạn (Lưu Thị Ngoạn) là một nhân vật cực kỳ hấp dẫn, một phụ nữ vừa tuyệt đẹp, lại ca diễn rất hay, và đặc biệt là tân thời, phóng khoáng. Thời ấy, người Pháp mới cấp 100 bằng lái xe ô tô cho người Việt, thì trong đó có bà Ba Ngoạn, nhưng bà chính là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên biết lái xe. Bà còn xây rạp Palikao ở Chợ Lớn, là rạp hát đầu tiên của Sài Gòn có lầu, vì các rạp khác chỉ có tầng trệt. Nói chung, bà hấp thu văn minh phương Tây rất sớm, làm việc khoa học và cuộc sống lịch lãm theo kiểu phương Tây.

Trong một lần vua Thành Thái đi du ngoạn phương Nam, cô đào Ba Ngoạn đã lọt vào mắt vua. Nhà vua vốn cũng có tâm hồn nghệ sĩ, nên hai người tâm đầu ý hợp, và cuộc tình ngắn ngủi đã sinh ra Nguyễn Ngọc Cương (cha của NSND Kim Cương). Thời cuộc loạn ly, cả gia đình đều giấu kín chuyện này, đến sau 1975 thì gia tộc của vua ở Huế vào tìm gặp Kim Cương. Kim Cương cũng có ra Huế thăm gia tộc và hiện trên bàn thờ của gia đình Kim Cương vẫn đặt hình vua Thành Thái.

Những gia tộc cải lương lừng danh: Gánh hát Phước Cương diễn trên đất Pháp - ảnh 1

Đi thử máy bay tại Hội chợ đấu xảo quốc tế Paris 1931 (cô đào Năm Phỉ đứng ở cửa máy bay)

“Công tử hột xoàn” đưa gánh cải lương sang Pháp

Bà Ba Ngoạn cho Nguyễn Ngọc Cương sang Pháp du học ngành y. Nhưng cậu con trai của bà lại mang dòng máu nghệ thuật, nên chuyển sang học sân khấu của Pháp. Chính những kiến thức đó khiến ông khi trở về nước đã áp dụng vào cải lương, đưa cải lương lên một tầm chuyên nghiệp đáng nể.

Ông Nguyễn Ngọc Cương thừa kế gánh hát bội của mẹ, nhưng đổi tên thành Phước Cương và chuyển sang diễn cải lương vào năm 1926. Nói đúng hơn, đầu thập niên 1920, cải lương mới ở hình thức ca ra bộ, và những gánh hát đầu tiên nổi đình nổi đám như gánh Thầy Năm Tú, gánh Tân Thinh, gánh Trần Đắc… Đến lượt Nguyễn Ngọc Cương, ông kết hợp với người bạn du học chung tại Pháp là Bạch công tử để gánh Phước Cương có thể mang dấu ấn sân khấu một cách rõ ràng hơn. Nói thêm một chút về Bạch công tử, ông tên thật là Lê Công Phước, dòng dõi giàu nức tiếng ở Mỹ Tho, người cùng thời với Hắc công tử Trần Trinh Huy ở Bạc Liêu, đều nổi tiếng ăn chơi phóng khoáng. Còn ông Nguyễn Ngọc Cương lại có biệt danh “công tử hột xoàn” bởi ông luôn gắn cái hột xoàn trên áo. Vì đều mê nghệ thuật nên Lê Công Phước và Nguyễn Ngọc Cương cùng đầu tư cho gánh hát, lấy một chữ trong tên mỗi người ráp lại thành gánh Phước Cương.

Những gia tộc cải lương lừng danh: Gánh hát Phước Cương diễn trên đất Pháp

Ông Nguyễn Ngọc Cương – ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Nguyễn Ngọc Cương đem những cuốn tiểu thuyết của Victor Hugo nhờ nghệ sĩ Năm Châu (NSND Nguyễn Thành Châu) dịch ra tiếng Việt, hoặc ông cùng dịch với Năm Châu để gánh Phước Cương có kịch bản biểu diễn. Có thể nói đây là những kịch bản đầu tiên của cải lương mang tính chuyên nghiệp và gần gũi với khán giả trí thức thành thị, vốn là đối tượng khó tính, đòi hỏi vở diễn vừa phải hấp dẫn mà văn chương cũng phải sâu sắc. Nghệ sĩ Năm Châu cũng ảnh hưởng Tây học, nên kịch bản ông soạn ra đều đáp ứng những tiêu chí mà ông bầu Nguyễn Ngọc Cương lẫn khán giả đòi hỏi. Ngay cả việc tập tuồng, dàn dựng, Nguyễn Ngọc Cương cũng áp dụng kiến thức sân khấu học từ Pháp. Gánh Phước Cương lúc bấy giờ tập trung hàng loạt nghệ sĩ lừng lẫy như Năm Phỉ, Ba Vân, Phùng Há, Tám Danh, Ba Du, Hai Nữ… đi lưu diễn khắp ba miền, nơi nào cũng chinh phục khán giả. Sau này cô đào Phùng Há và Bạch công tử cưới nhau, tách ra khỏi gánh Phước Cương, thành lập gánh Huỳnh Kỳ, thì một mình ông bầu Nguyễn Ngọc Cương đảm nhiệm tất cả.Một sự kiện chấn động làng cải lương là gánh Phước Cương dự Hội chợ đấu xảo quốc tế Paris tại Pháp năm 1931, bây giờ tương tự như liên hoan sân khấu. Cô đào Năm Phỉ đóng vai Bàng Quý Phi trong vở Xử án Bàng Quý Phi đã đoạt 4 huy chương, được khán giả và hơn 40 tờ báo tại Pháp ca ngợi. NSND Kim Cương nói: “Má Năm tôi hát tiếng Việt vậy mà khán giả Pháp vẫn hiểu cốt truyện, tâm lý nhân vật, rồi khóc luôn. Đó là do diễn xuất của bà hay đến nỗi vượt qua rào cản ngôn ngữ”.

Với danh tiếng đạt được, sau khi từ Pháp về, gánh Phước Cương cho diễn lại vở này liên tục tại nhiều rạp, doanh thu cao ngất và cô đào Năm Phỉ càng nổi tiếng lừng lẫy. Tóm lại, chỉ trong vòng 20 năm (từ 1925 – 1945), ông Nguyễn Ngọc Cương đã phát triển cải lương lên một tầm cao đáng nể.

Những gia tộc cải lương lừng danh: Từ huyền thoại Năm Phỉ tới kỳ nữ Kim Cương

Ông Nguyễn Ngọc Cương có 3 người vợ đều là đào hát nổi tiếng. Người vợ đầu tiên là cô Năm Nhỏ xinh đẹp và lừng danh. Khi ly hôn, ông cưới bà Năm Phỉ và họ không có con

Đến năm 40 tuổi, ông lại cưới bà Bảy Nam (em ruột bà Năm Phỉ), sinh ra Kim Cương. Như vậy, cả bên nội lẫn bên ngoại của NSND Kim Cương đều có truyền thống sân khấu.

Huyền thoại Năm Phỉ – tài hoa bạc mệnh

Bà Năm Phỉ sinh tại Mỹ Tho, trong một gia đình nề nếp có 11 anh em. Cha bà là kỹ sư lại rất ghét “xướng ca vô loài”. Không ngờ, cô con gái của ông lại mê sân khấu, cứ ngân nga câu hát và múa may ra bộ, khi bị cha phát hiện thì ăn đòn rất nặng. Nhưng người mẹ lại hiểu con, và giúp con trốn nhà theo gánh hát khi mới 10 tuổi.

Những gia tộc cải lương lừng danh: Từ huyền thoại Năm Phỉ tới kỳ nữ Kim Cương - ảnh 1

NSND Bảy Nam và NSND Kim Cương trong vở Lá sầu riêng

Bà Năm Phỉ đầu quân cho gánh Nam Đồng Ban nổi tiếng, rồi vài năm sau có chồng, là kép hát Hai Giỏi lừng danh lúc bấy giờ. Chẳng may chồng chết sớm, bà trôi nổi qua nhiều gánh nữa, học thêm biết bao tinh hoa của các nghệ sĩ giỏi, sau cùng tham gia gánh Phước Cương.

Bà Năm Phỉ ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Bà Năm Phỉ

Cô đào Năm Phỉ vừa là người đi hát cho gánh của ông Nguyễn Ngọc Cương nhưng cũng có thể coi là học trò của ông, vì chính ông đem những kiến thức sân khấu từ Pháp về áp dụng vào mỗi buổi tập tuồng, huấn luyện các nghệ sĩ một cách bài bản, cặn kẽ, có nền tảng lý thuyết vững chắc. Bà Năm Phỉ như diều gặp gió, toàn được ông bầu giao cho những vai chính trong các vở Trà hoa nữ, Lan và Điệp, Xử án Bàng Quý Phi, Lã Bố hí Điêu Thuyền, Mộng Hoa nương... Bà diễn giỏi tất cả các loại tuồng, từ tuồng xưa cho đến tuồng xã hội. Và sự kiện tham dự Đấu xảo sân khấu tại Paris năm 1931 đã đưa tên tuổi của bà lên tận đỉnh cao.

Bà Năm Phỉ đúng là một huyền thoại bởi bà không hề biết chữ. Rời nhà ra đi khi còn quá nhỏ, bà đâu có kịp học hành, cứ thế lao vào nghề hát. Nhưng trời cho bà có một trí nhớ siêu phàm, kịch bản vừa nghe qua là thuộc. NSND Bảy Nam từng kể: “Có khi chị Năm ngồi nói chuyện với khách bên kia, còn tôi bên này đọc kịch bản, mà chị có thể lắng tai nghe rồi lát sau đọc lại ro ro”

Nhưng bà Năm Phỉ đúng là tài hoa bạc mệnh. Bà sống với ông Nguyễn Ngọc Cương không có con. Họ chia tay, ông cưới bà Bảy Nam, thế là bà bỏ gánh Phước Cương, ra lập gánh riêng mang tên mình. Chẳng bao lâu, ông Nguyễn Ngọc Cương mất, hai chị em Năm Phỉ – Bảy Nam lại về sống chung, cùng lập gánh mới là Tam Phụng, nương tựa lẫn nhau. Nhưng bà Năm Phỉ vốn quen lối sống hào hoa, ăn xài phóng khoáng, khiến bà Bảy Nam phải lo toan mọi bề cho gánh hát. Năm 1954 khi vừa đóng xong vai cô Lan 18 tuổi, khán giả vỗ tay rần rần vì bà vẫn trẻ đẹp lộng lẫy dù đã 48 tuổi, thì bà ngất xỉu và qua đời, kết thúc một đời tài hoa.

NSND Bảy Nam và kỳ nữ Kim Cương

Nói đến NSND Kim Cương, có lẽ không thể nào tách khỏi tên tuổi NSND Bảy Nam, bởi hai mẹ con đã gắn bó nhau qua biết bao biến cố gia đình và thời cuộc.

Từ năm 19 tuổi (1932), bà Bảy Nam đã tự lập gánh riêng, trở thành trụ cột, vừa là quản lý lo cho mấy chục anh em nghệ sĩ trong đoàn, lại viết luôn kịch bản, rồi làm đào hát, có khi mang bụng bầu 8 tháng mà vẫn lên sân khấu biểu diễn, có khi đẻ dọc đường, có khi gồng gánh cả đoàn chạy qua năm tháng chiến tranh, nuôi chồng bệnh hoạn, nuôi chị, nuôi em, rồi có lúc vinh quang bước sang điện ảnh… thăng trầm đầy ắp. Bà sống mạnh mẽ như một trượng phu, nhưng nhân hậu, giản dị đúng chuẩn phụ nữ miền Nam, ai cũng kính nể.

Chỉ đến khi Kim Cương 16 tuổi có khả năng gánh vác gia đình, và bà tái hôn với ông lục sự Phạm Hữu Điệc giàu có, yêu thương bà hết mực, thì mới coi như bà được sung sướng. Nhưng khi Kim Cương thành lập đoàn kịch thì bà lại chung tay gánh vác với con. Bà vừa là cố vấn nghệ thuật, vừa đóng những nhân vật mà có lẽ không ai thay thế nổi. Bà mẹ trong Lá sầu riêng, Bông hồng cài áo là hai “tượng đài” để đời.

Đến lượt NSND Kim Cương rất giống mẹ ở chỗ mới 20 tuổi đã thành lập đoàn kịch cho riêng mình (1957). Thật ra ban đầu Kim Cương đóng cải lương, vì tuổi thơ mới 10 ngày tuổi đã được bồng lên sân khấu, rồi 6 tuổi đóng vai Na Tra, sau đó là sống trong cái nôi cải lương của cha, mẹ, và dì ruột Năm Phỉ, thì Kim Cương hấp thu biết bao tinh hoa nghệ thuật. Bà từng có những vai xuất sắc trong Điêu Thuyền, Giai nhân và ác quỷ... nên báo chí phong cho biệt danh kỳ nữ.

Nhưng khi bà chuyển sang kịch nói thì hầu như bà phải tự mò mẫm đi vì lúc ấy kịch nói mới manh nha. Thế là, Kim Cương phải xắn tay lên làm mọi thứ y như mẹ mình đã từng làm. Nào là quản lý, viết kịch bản, dàn dựng, ứng xử, ngoại giao… Nhưng trên sàn diễn người ta chỉ nhớ đến cô Diệu (Lá sầu riêng), bà Tư bán chè (Bông hồng cài áo), Bích và Bê (Dưới hai màu áo), Tania (vở Tania)… là những vai để đời trong số mấy chục vai nổi tiếng. Bà còn đóng mấy chục phim nhựa, khán giả đều say đắm. Sau 1975, bà lại nổi danh trong công tác từ thiện, và đến nay đã 84 tuổi vẫn còn là điểm tựa cho rất nhiều người nghèo

Những gia tộc cải lương lừng danh: Tìm lại hào quang tuồng cổ Minh Tơ

Song song với chi tộc của ông Minh Tơ, chi tộc của nghệ sĩ Huỳnh Mai cũng rất hùng hậu. Và sau thế hệ này là thế hệ thứ năm lại sinh ra một loạt nghệ sĩ trẻ tên tuổi.
Nghệ sĩ Bạch Lê vai Thượng Dương hoàng hậu, NSƯT Thành Lộc vai Lý Đạo Thành trong vở 'Câu thơ yên ngựa' /// Ảnh: H.KNghệ sĩ Bạch Lê vai Thượng Dương hoàng hậu, NSƯT Thành Lộc vai Lý Đạo Thành trong vở ‘Câu thơ yên ngựa’

Chi tộc Huỳnh Mai

Bà Huỳnh Mai là em ruột của ông Minh Tơ. Bà kết duyên với NSND Thành Tôn, một nghệ sĩ hát bội nức tiếng lúc bấy giờ. Nếu tính dòng dõi của Thành Tôn thì đã truyền nghề hát đến 5 đời.

Đời thứ nhất, ông cố Nguyễn Văn Sĩ rành hát bội nên bỏ triều đình về nhà lập nhóm hát cho đình chùa và đào tạo con cháu lẫn người trong làng. Đời thứ hai là ông nội Nguyễn Văn Luông, bà nội Trần Thị Mười, hai nghệ sĩ lừng danh thành lập đoàn Phước Long Ban (đầu thập niên 1920). Đời thứ ba là ông Nguyễn Văn Nở cũng đứng trên sân khấu. Đời thứ tư là NSND Thành Tôn, vừa đi hát, vừa giảng dạy, viết kịch bản, dàn dựng, nghiên cứu. Ông còn học ca cải lương rất giỏi, sử dụng được cả đàn kìm, đàn cò, đàn sến, rất tài hoa. Đời thứ năm là anh chị em của NSƯT Thành Lộc, đều rạng danh dòng họ.

Như vậy, nếu tính bên phía cha thì Thành Lộc thuộc thế hệ thứ năm, còn tính bên phía mẹ thì Thành Lộc thuộc thế hệ thứ tư. Nhà anh có 6 người đều theo sân khấu: Bạch Liên, Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc. Anh rể là Thanh Bạch (chồng của Bạch Lê) cũng là một kép nổi tiếng. Ấn tượng về Bạch Lê không phai trong lòng khán giả, với gương mặt tròn sáng đẹp, đôi mắt to, giọng ngọt ngào, từng thành công với rất nhiều vai như Ỷ Lan, Thần nữ, Phan Kim Liên… Bạch Lựu thì đa năng, vừa biết diễn lại vừa giỏi tổ chức, nghiên cứu. Khi sang Úc định cư, bà giữ chương trình văn hóa nghệ thuật tiếng Việt của một đài phát thanh, chuyên về cải lương suốt mấy chục năm. Bạch Lý là một tay trống cừ khôi. Còn Bạch Long giỏi cải lương lẫn kịch, và công lao lớn nhất của ông là thành lập đoàn Đồng Ấu Bạch Long đào tạo nhiều diễn viên nhí, sau này đều nổi tiếng như Tú Sương, Quế Trân, Trinh Trinh, Vũ Luân, Bình Tinh, Thanh Thảo, Thy Trang, Chấn Cường…

Chỉ riêng NSƯT Thành Lộc rẽ sang kịch nói. Anh được mệnh danh là “phù thủy sân khấu” với tài biến hóa tuyệt vời đủ các loại vai, từ mùi, thương, lẳng, độc, hài, đến trẻ, già, con nít, kịch xã hội, kịch lịch sử, kịch thiếu nhi… Anh còn đạo diễn những vở nổi tiếng như Bí mật vườn Lệ Chi, Tiên Nga… Anh có quá nhiều vai ấn tượng, chỉ đơn cử các vở Vua thánh triều Lê, Tiếng chim vườn ngọc lan, Dạ cổ hoài lang, Tía ơi! Má dìa… Chưa kể, anh còn tham gia vài chục bộ phim nhựa lẫn phim truyền hình và tỏa sáng.

Thế hệ thứ năm với quyết tâm phục hồi bảng hiệu

Chi tộc Minh Tơ sinh ra nhiều diễn viên trẻ thuộc thế hệ thứ năm. NSƯT Quế Trân (con của NSND Thanh Tòng), NSƯT Tú Sương, Ngọc Nga, Thanh Thảo (con của nghệ sĩ Thanh Loan và nghệ sĩ Trường Sơn), Trinh Trinh (con của Xuân Yến) tất cả đều nổi danh từ rất sớm. Chưa kể những người con rể cũng là kép cải lương nổi tiếng, như NSƯT Kim Tử Long (chồng Trinh Trinh), kép Điền Trung (chồng Thanh Thảo).

NSƯT Quế Trân hiện nay là cô đào đẹp đắt khách, không chỉ hát cải lương mà còn làm MC rất duyên dáng. Quế Trân gây ấn tượng trong các vở Chuyện tình Khâu Vai, Thầy Ba Đợi, Khúc ly hương, Trắng hoa mai, Trời Nam… Cốt cách sang trọng, thần sắc dịu dàng mà nghiêm túc, Quế Trân thường vào vai những bậc quyền quý, nhân nghĩa, thủy chung. Quế Trân gần như nghiêng hẳn về cải lương truyền thống, ít tham gia tuồng cổ như gia tộc của mình.

Trong khi đó, NSƯT Tú Sương lại là một ngôi sao của tuồng cổ, giữ vững vị trí của gia tộc. Gương mặt sáng sân khấu, giọng ca khỏe khoắn, vũ đạo rất đẹp, Tú Sương đang là nghệ sĩ tuồng cổ “có giá” nhất của thế hệ cô.

Tú Sương có hai cô con gái Hồng Quyên, Tú Quyên đang hứa hẹn một thế hệ thứ sáu đầy triển vọng. Hồng Quyên dù còn đang đi học nhưng ngay từ nhỏ đã lên sân khấu diễn nhiều vai đào thương khiến mọi người xuýt xoa. Ngoại hình xinh xắn, giọng ca ngọt ngào, nét diễn có phần sâu sắc, nổi bật tố chất đào thương. Và thế hệ thứ sáu này phải kể đến bé Kim Thư (con của Ngọc Nga) làm khán giả “choáng váng”. Mới 3 tuổi Kim Thư đã bước lên sàn diễn, và mọi người dõi theo cô bé từng năm với những vai diễn mới, từ cải lương tới kịch nói, truyền hình, gameshow, điện ảnh… Dấu ấn của Kim Thư trong phim Nắng đã khiến cô bé được đặc biệt yêu mến.

Đoàn Minh Tơ từ 1990 đã ngưng hoạt động vì không ai quản lý, thành viên trong gia tộc tứ tán sân khấu khác. Nhưng mới đây nghệ sĩ Công Minh đã quyết tâm phục hồi, ông họp con cháu, và tái dựng vở Lưu Bị cầu hôn Giang Tả tại Sân khấu Sen Việt vào đầu tháng 5.2021, như cách ra mắt đoàn Minh Tơ trở lại. Vé bán đầy kín, khán giả mua luôn cho suất sau. Tín hiệu ấy khiến gia tộc Minh Tơ vui mừng, và sẽ tiếp tục biểu diễn nhiều vở nữa. Công Minh nói: “Trách nhiệm chúng tôi là phải giữ lấy nghề của cha ông đã gầy dựng 100 năm. Anh Thanh Tòng và cháu Bạch Lựu có rất nhiều kịch bản hay của người lớn lẫn thiếu nhi, giờ chỉ cần mang ra chỉnh lý lại là diễn tốt thôi. Chúng tôi sẽ đoàn kết cùng nhau làm cho cải lương sáng đèn”.

Những gia tộc cải lương lừng danh: Gia tộc Thanh Minh – Thanh Nga sinh ra ‘nữ hoàng sân khấu’

Gia tộc Thanh Minh – Thanh Nga đã 4 đời làm nghề, có nhiều tài năng cải lương. Đặc biệt, gia tộc này còn sinh ra một nghệ sĩ có lẽ hàng trăm năm mới có một người: NSƯT Thanh Nga tài sắc vẹn toàn, được mệnh danh là ‘nữ hoàng sân khấu’.

NSƯT Hữu Châu (vai Tô Định), nghệ sĩ Hồng Loan (vai Trưng Trắc) trong vở Tiếng trống Mê Linh do “ông bầu” Gia Bảo phục dựng /// ẢNH: H.K

NSƯT Hữu Châu (vai Tô Định), nghệ sĩ Hồng Loan (vai Trưng Trắc) trong vở Tiếng trống Mê Linh do “ông bầu” Gia Bảo phục dựng

Gia tộc Thanh Minh – Thanh Nga bắt đầu từ ông Năm Nghĩa, một nghệ sĩ nổi danh với giọng ca ngọt lịm. Ông đã cộng tác với nhiều đại bang lúc bấy giờ, trong đó có đoàn Phước Cương (của cha NSND Kim Cương) và thu đĩa rất nhiều (khoảng 1938). Công lao lớn nhất của ông là từ bài Dạ cổ hoài lang nhịp 4 của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, ông đã phát triển lên thành nhịp 8 với tác phẩm do mình sáng tác là bài Văng vẳng tiếng chuông chùa lưu hành khắp Nam kỳ lục tỉnh. Từ đó, các nhạc sĩ phát triển lên thành nhịp 16, rồi 32, và 64 như hiện nay.

Năm 1948, ông cưới bà Nguyễn Thị Thơ và đến 1951 thì hai ông bà lập gánh Thanh Minh. Bà Thơ trở thành bà bầu lừng lẫy, vì vài năm sau khi chồng chết, một tay bà gánh vác, vừa nuôi dạy bầy con cháu, vừa có trách nhiệm với hàng trăm nghệ sĩ, vừa sản xuất những tác phẩm để đời. Nói đến bà bầu Thơ, trong giới đều nể phục. Bà vừa có ý chí, vừa có khả năng kinh doanh, vừa có thẩm định nghệ thuật sâu sắc. Bà nổi tiếng về tính kỷ luật, công tâm, đã giữ chân được nhiều “ngôi sao” như Út Trà Ôn, Thành Được, Việt Hùng, Hữu Phước, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu…

Những gia tộc cải lương lừng danh: Gia tộc Thanh Minh - Thanh Nga sinh ra 'nữ hoàng sân khấu' - ảnh 1
Bà bầu Thơ và NSƯT Thanh Nga

Thế hệ Thanh Nga rực rỡ

Chính trong giai đoạn gá nghĩa với bà Thơ, ông Năm Nghĩa ra sức rèn nghề cho cô bé Thanh Nga. Bà bầu Thơ có một đời chồng trước, sinh hai người con là Hữu Thình (cha của NSƯT Hữu Châu) và Thanh Nga. Ông Năm Nghĩa thương con của vợ như con ruột và dạy nghề tận tâm. Thanh Nga có tố chất rất cao, năm 16 tuổi đã đoạt giải Thanh Tâm tổ chức lần đầu tiên (1958) với vai Phà Ca trong vở Người vợ không bao giờ cưới. Vì vậy, ông bà bầu Thơ đổi tên gánh hát thành Thanh Minh – Thanh Nga. Từ đó, Thanh Nga nổi tiếng lẫy lừng, không chỉ trong cải lương mà còn bước sang điện ảnh, được báo chí và khán giả gọi là “nữ hoàng sân khấu”. Hiếm có nghệ sĩ nào tài sắc vẹn toàn như NSƯT Thanh Nga, cho đến sau 1975, bà lại làm khán giả rúng động với những kịch bản để đời như Tiếng trống Mê Linh, Bên cầu dệt lụa, Dương Vân Nga. Tiếc thay, bà mất khi còn quá trẻ, mới 37 tuổi. Đám tang bà, khán giả đi đưa đông kín khắp nẻo đường Sài Gòn.

Thế hệ thứ hai của gia tộc này còn có NSƯT Bảo Quốc có thể nói là một trong những danh hài tiêu biểu. Ông Năm Nghĩa rèn cặp Bảo Quốc từ nhỏ nhưng Bảo Quốc rất ham chơi, chỉ thích đá banh. Đến khi cha mất, Bảo Quốc mới trưởng thành, làm nghề nghiêm túc. Và ông đoạt giải Thanh Tâm năm 1968. Nhưng sau đó, từ kép mùi ông lại chuyển sang hài một cách bất ngờ từ vai Chương Hầu trong vở Tiếng trống Mê Linh. Thế là con đường nghệ thuật mở ra thênh thang trong giai đoạn hài lên ngôi vào thập niên 1980, 1990 và 2000. Nét hài của NSƯT Bảo Quốc dễ thương, kết hợp với gương mặt bầu bĩnh, phúc hậu thì trở nên hồn nhiên, đáng yêu vô cùng. Không cần lạm dụng hình thể, NSƯT Bảo Quốc vẫn chinh phục khán giả một cách ngoạn mục.

Nỗ lực bám trụ của thế hệ sau

Nghệ sĩ Hữu Thình cùng vợ – nghệ sĩ Thanh Lệ, sinh ra người con là NSƯT Hữu Châu. Anh lớn lên trong giai đoạn gia tộc từ thời hoàng kim chuyển sang sa sút vì cô ba Thanh Nga mất, bà nội già yếu, bệnh hoạn, gánh hát tạm ngưng, cho nên tâm hồn anh thấu cảm rất nhiều điều. Dẫu vậy, anh vẫn được bà nội cưng nhất nhà và truyền cho nhiều kiến thức, tư tưởng, nền nếp. Sau này NSƯT Hữu Châu làm rạng danh cho gia tộc với nhiều vai diễn để đời ở lĩnh vực kịch nói. Hữu Lộc là em trai của Hữu Châu cũng từng là ông bầu của Sân khấu kịch Nụ Cười Mới nhưng không may mất sớm. Hà Linh là con trai duy nhất của Thanh Nga, nhưng cũng đi theo kịch nói và đóng phim.

Thế hệ thứ ba của gia tộc Thanh Minh – Thanh Nga vẫn còn một người bám trụ cải lương, chính là Hồng Loan (con gái của NSƯT Bảo Quốc). Hồi ở Việt Nam, Hồng Loan tham gia nhiều lĩnh vực như kịch, phim, nhưng khi định cư ở Mỹ từ 2007 thì cô quay trở lại với cải lương bằng cả niềm say mê. Hồng Loan đóng nhiều vở trên sân khấu lẫn truyền hình, video và phụ trách cả một kênh riêng chuyên nói về cải lương, được nhiều khán giả đón nhận. Nét diễn của Hồng Loan phảng phất nét của NSƯT Thanh Nga, dù lúc cô ba mất, Hồng Loan chỉ mới 5 tuổi. Có lẽ đó là “di sản” của gia tộc mà Hồng Loan thừa hưởng.

Gia Bảo – cháu nội của NSƯT Bảo Quốc, chuyên đóng kịch hài, là thế hệ thứ tư của dòng họ. Nhưng máu làm bầu của bà cố Thơ đã truyền lại cho đứa cháu này và anh say mê tổ chức các chương trình, từ các vở kinh điển như: Tiếng trống Mê Linh, Bên cầu dệt lụa, Lan và Điệp, Nửa đời hương phấn… cho tới các liveshow cho nghệ sĩ. Anh từng tâm sự: “Tôi hối hả làm vì sợ thế hệ cô chú bác yếu dần đi, không còn đứng trên sân khấu được nữa”. Nhờ vậy, khán giả đã kịp gặp NSƯT Thanh Sang và NSƯT Phương Quang trước khi hai ông mất, cũng như tái ngộ các gương mặt gạo cội: Phượng Liên, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Chí Tâm, Thanh Kim Huệ…

Những gia tộc cải lương lừng danh: Đoàn Huỳnh Long qua những thăng trầm

Huỳnh Long cũng là một đại gia tộc song song với Minh Tơ trong lĩnh vực tuồng cổ, và cùng phát triển lẫn suy tàn gần như cùng thời. Hiện nay cả Huỳnh Long và Minh Tơ đều đang ra sức hồi phục bảng hiệu một cách cảm động.

Nghệ sĩ Thanh Bạch và nghệ sĩ Bình Tinh /// H.K - NSCC
Nghệ sĩ Thanh Bạch và nghệ sĩ Bình Tinh

Gắn bó với đình nhơn hòa – cầu muối

Ông bầu Bảy Huỳnh và vợ là nghệ sĩ Ngọc Hương là nghệ sĩ hát bội cùng nổi danh thập niên 1940 – 1950, lập gánh riêng tên gọi Chánh Thành, hát thường trực ở đình Nhơn Hòa (Cầu Muối, Q.1, Sài Gòn). Đây là một ngôi đình lớn, không thua kém đình Cầu Quan, mà sau này thành trụ sở chính của đoàn Minh Tơ. Và thực tế sau này khi đoàn Chánh Thành chuyển sang hồ quảng Huỳnh Long thì cũng chọn đình Nhơn Hòa làm trụ sở chính. Hiện nay đình Nhơn Hòa vẫn còn tại vị nơi chợ Cầu Muối, trên gác của đình có một gian mà cô đào Kim Phượng (con gái của ông bà Bảy Huỳnh) thuê để đặt bàn thờ tổ của đoàn Huỳnh Long và làm kho chứa trang phục cải lương.

Thế hệ thứ hai, ông bà Bảy Huỳnh có 5 người con theo nghề hát là Bạch Mai, Thanh Bạch, Kim Phượng, Bạch Nga, Thanh Châu. Vào thập niên 1960 – 1970, ông bà Bảy Huỳnh chuyển sang hát hồ quảng và lập tới 4 đoàn đều lấy tên Thanh Bình – Kim Mai, hai người con trụ cột chính là Bạch Mai và Thanh Bạch nổi tiếng lừng lẫy. Kim Phượng thì chuyên về trang phục, Thanh Châu chuyên về âm nhạc, coi như cả gia tộc đều có người phụ trách các lĩnh vực.

Nói về nghệ sĩ Thanh Bạch, đúng nghĩa là một kép đẹp, dung mạo đoan chính, giọng ca trầm ấm, vũ đạo tuyệt vời, lên sân khấu là “đốn tim” khán giả. Thanh Bạch đóng vai tướng thì đầy dũng khí, còn đóng vai vua thì sáng sủa, minh định, người xem thật sự rung động.
Còn Bạch Mai đóng đào mùi đào độc đều xuất sắc, đặc biệt đào võ với thần thái và chất giọng uy nghi. Bà còn có khả năng đạo diễn và viết tuồng, cho đến nay khoảng 50 kịch bản vẫn được các đơn vị tái dựng, chẳng hạn Xử án Phi Giao, Giang sơn và mỹ nhân, Tấm Cám, Mạnh Lệ Quân, Ngũ biến báo phu cừu… Bà kết hôn với Đức Lợi, cũng là một nghệ sĩ nổi tiếng trong tuồng cổ.

Cần nói rõ về một giai đoạn của gia tộc này. Sau khi ông Bảy Huỳnh mất, đến năm 1975 thì thay đổi thể chế, không được diễn tuồng Tàu, bà Bảy Huỳnh đứng ra xin giấy phép thành lập đoàn tuồng cổ Huỳnh Long, cái tên Huỳnh Long mới thật sự có từ đây. Thanh Bạch trở thành trụ cột của đoàn, còn Bạch Mai thì sáng tác thêm những kịch bản lịch sử như Anh hùng bán than, Mặt trời đêm thế kỷ (chuyển thể từ kịch bản của Lê Duy Hạnh)… Nhưng đến năm 1980 thì đoàn ngưng hoạt động, Thanh Bạch về đầu quân cho Minh Tơ, gặp gỡ và nên duyên cùng nghệ sĩ Bạch Lê (chị ruột NSƯT Thành Lộc), rồi năm 1990 cả hai vợ chồng sang Pháp định cư. Coi như đoàn Huỳnh Long ngưng diễn.

Khôi phục bảng hiệu bằng sức trẻ

Tuy nhiên, nghệ sĩ Bạch Mai vẫn âm thầm làm nghề. Bà đi hát show, hoặc thu video, thu đĩa. Và bà đã sinh ra thế hệ thứ ba với Chinh Nhân và Bình Tinh, chính là người bây giờ phục hồi bảng hiệu Huỳnh Long.

Chinh Nhân là một kép đẹp từng đoạt giải Trần Hữu Trang. Dung mạo sáng sủa, giọng ca trong trẻo, vũ đạo đẹp, tương lai đầy hứa hẹn. Không ngờ anh bệnh nặng và mất khi mới 46 tuổi.

Bình Tinh theo học tại Đồng ấu Bạch Long, cũng lên sân khấu từ rất sớm. Nhưng giai đoạn cô trưởng thành chính là giai đoạn u ám nhất của gia tộc. Một mình cô chạy show tất bật để nuôi mẹ và lo cho anh. Có khi hát trích đoạn, có khi ca nhạc, kể cả hát đám ma, đám cưới… 15 năm, cô cùng người chồng nắm chặt tay vượt qua gian khó với lòng hiếu thảo vô bờ.

Trời không phụ kẻ có lòng, Bình Tinh tham dự cuộc thi Sao nối ngôi năm 2016 và đoạt quán quân. Từ đó, cô đắt show không thể tưởng, có khán giả còn thương yêu tặng cả xe hơi, đồ hiệu… Bây giờ Bình Tinh không còn lo lắng chuyện làm nghề và kinh tế gia đình nữa.
Nhưng mối bận tâm của Bình Tinh chính là gầy dựng lại bảng hiệu Huỳnh Long. Cô vừa ra mắt vở San hà xã tắc tại rạp Hồng Liên (tháng 4.2021) đêm nào cũng kín hết 400 ghế, phải kê thêm ghế xúp. Với tín hiệu vui này, nghệ sĩ Bình Tinh cho biết: “Chúng tôi đang dựng Nữ tướng Hồ Đề (một vị tướng thời Hai Bà Trưng), và Hoàn Châu cách cách, dự kiến ra mắt trong tháng 6. Thật cảm động khi thấy khán giả còn ái mộ Huỳnh Long, tôi phải cố hết sức”.

Chủ trương của Bình Tinh là sử dụng sức trẻ, chỉ mời một ít tiền bối gắn bó như NSƯT Thoại Mỹ, Ngân Tuấn… Cô muốn gầy dựng thêm một thế hệ nối tiếp, trong đó có nhiều em là thí sinh đi thi Sao nối ngôi được chính cô huấn luyện. Trên sân khấu Huỳnh Long bây giờ sẽ thấy sự thanh xuân của Bình Tinh, Hoàng Đăng Khoa, Trọng Nhân, Khánh Nhi, Thái Vinh, Huyền Trâm, Bảo Bảo…

Và Bình Tinh cũng hướng tới một lớp khán giả trẻ, cho nên cô nhờ mẹ là nghệ sĩ Bạch Mai chỉnh lý lại các kịch bản cũ và viết thêm kịch bản mới, sao cho trẻ hơn, nhẹ nhàng hơn, duyên dáng và hài hước. Với tâm nguyện làm cho khán giả trẻ phải yêu cải lương, Bình Tinh đang dốc toàn bộ trái tim của mình vào sân khấu.