Nghệ sĩ Trinh Trinh: Tuổi thơ khốn khó từng bán vé số mưu sinh

0
153

Nghệ sĩ Trinh Trinh kể về tuổi thơ khốn khó khi cải lương xuống dốc và cha bệnh nặng, chị em cô phải ra đường bán vé số, khoai mỳ giúp mẹ.

Những năm đầu thập kỷ 1990, khán giả Việt Nam từng nức nở với lời hát về mẹ của em bé mồ côi Nghi Xuân trong phim Phạm Công Cúc Hoa. Hơn 20 năm sau, cô bé Nghi Xuân trong phim ngày nào giờ là nghệ sĩ cải lương Trinh Trinh – vợ nghệ sĩ Kim Tử Long.

Trinh Trinh vào vai Nghi Xuân năm 11 tuổi. Cô được cậu ruột là đạo diễn Phượng Hoàng dắt đến thử vai. Vượt qua 11 cặp chị em khác, Trinh Trinh và em trai được chọn. Hình ảnh hai đứa trẻ đói rách lùa vịt trên cánh đồng hoang vắng, thèm miếng ăn, hơi ấm cha mẹ do Trinh Trinh, Công Tuấn thủ vai khiến nhiều khán giả thổn thức, thậm chí khóc theo diễn xuất chân thật của họ. Trinh Trinh nhớ khi đó cô và em trai diễn xuất rất hồn nhiên.

“Nghe đạo diễn nói qua về các cảnh quay, tôi và Công Tuấn cứ vậy thoại, khóc cười tự nhiên. Trước đó, chúng tôi được người lớn kể cho nghe nhiều lần chuyện Phạm Công Cúc Hoa nên rất nhập tâm với nhân vật”, Trinh Trinh nhớ lại. Nữ nghệ sĩ kể khi phim phát hành, cô cùng chúng bạn trèo rào vào nhà văn hóa xem. Không ngờ khán giả nhận ra Nghi Xuân ngoài đời nên nhường cho chỗ ngồi tốt nhất và không ngừng yêu cầu cô thể hiện bài hát trong phim. “Có lẽ đó là khoảnh khắc được tung hô đáng nhớ nhất trong đời tôi”.

Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống ca cổ danh giá (cháu ngoại của nghệ sĩ Minh Tơ, con gái của nghệ sĩ Xuân Yến – Hữu Cảnh), Trinh Trinh từng trải qua tuổi thơ khốn khó.

Nếu như Nghi Xuân trong phim nghèo khó, vất vả, luôn thèm khát tình mẹ thì Nghi Xuân ngoài đời cũng truân chuyên, lận đận không kém suốt những năm tuổi trẻ.

Sau vai diễn gây xúc động trong Phạm Công Cúc Hoa, cô bé Trinh Trinh không theo đuổi điện ảnh mà tập trung diễn xuất trên sân khấu cải lương. Năm 13 tuổi, cô được nghệ sĩ Lệ Thủy mời đóng tuồng Kiếp chồng chung. Sau đó, Trinh Trinh tham gia đội kịch Đồng Ấu Bạch Long. 17 tuổi, cô chứng kiến cảnh gia đình suy sụp khi bố mắc bệnh hiểm nghèo.

Là ông bầu gánh hát Khánh Hồng, nghệ sĩ Hữu Cảnh suy sụp trước sự thoái trào của sân khấu cải lương. “Mỗi ngày nhà tôi phải trích hai chỉ vàng trả tiền đoàn hát, còn tiền thuốc cho bệnh suy nhược thần kinh của bố mất từ sáu đến bảy lượng vàng. Mẹ phải bán nhà còn chị em tôi dắt díu về ở nhờ nhà bà ngoại. Cả gia đình ăn khoai, sắn qua ngày để có tiền trị bệnh cho bố”, Trinh Trinh kể.

Nữ nghệ sĩ bỏ học ngang chừng, cùng các em xuống đường bán khoai mỳ, vé số để có tiền sinh sống. “Lúc đó, tôi không thấy xấu hổ khi bị người đi đường nhận ra mình từng đóng phim. Nhiều người thương mua vé số ủng hộ nên cuộc sống đỡ cơ cực hơn”. Đến giờ, Trinh Trinh vẫn không quên ký ức dầm mưa bán vé số rồi về bị ốm suốt tuần hay những lần bán khuya, bị giật cả vé số lẫn tiền.

Bán vé số một thời gian, Trinh Trinh theo nghệ sĩ Hữu Châu, Hữu Lộc, Tấn Thi, Trung Dân đi tấu hài khắp các tụ điểm giải trí Sài Gòn. Nhà chỉ có một chiếc xe đạp, mấy chị em phải nhường nhau. Cứ sáng sáng các nghệ sĩ thương tình, luân phiên nhau đến nhà chở cô đi diễn. Khi tấu hài lắng xuống, Trinh Trinh vừa diễn cải lương, vừa hát tân nhạc tại các nhà hàng, khách sạn, tàu du lịch hay các đám tiệc để kiếm sống và phụ giúp gia đình.

“Mỗi ngày tôi đều đặn đạp xe từ nhà bà ngoại ở quận 5 sang Lăng Bà Chiểu ở quận nhất để diễn tuồng. Có khi sáng tôi làm đào chính trên sân khấu đoàn Đồng Ấu – Minh Tơ, tối làm thị nữ cho một đoàn khác hoặc đi hát tiệc”, nghệ sĩ nhớ lại giai đoạn khốn khó.

Dù khốn khó, Trinh Trinh nghe lời mẹ, các cậu giữ truyền thống gia đình – theo nghiệp cải lương. Cô được mến mộ với những vai diễn để đời như Lý Thần Phi (Bích Cung kỳ án), Thượng Dương hoàng hậu (Câu thơ yên ngựa), Đoàn Hồng Loan (Tô Hiến Thành xử án), Phi Giao (Xử án Phi Giao), Hoàng Dung (Chiếc áo thiên nga)… Trinh Trinh đoạt huy chương vàng giải Trần Hữu Trang năm 18 tuổi khi hóa thân vào vai nữ tướng Bùi Thị Xuân trong tuồng Thanh gươm và nữ tướng,

Nghệ sĩ cải lương Diệu Hương nói về Trinh Trinh: “Trinh trên sân khấu mạnh mẽ, dữ dội bao nhiêu thì ngoài đời nhút nhát bấy nhiêu. Em chọn sống bình lặng, chuyên tâm với ca vọng cổ, không ham xuất hiện ở các lĩnh vực giải trí khác dù có cơ hội”.

“Nhiều khi tôi cũng khóc tự hỏi sao cuộc đời mình truân chuyên. Bình tâm lại, tôi tự an ủi mình đó là số phận. Miễn là tôi được hát, dù là trên sân khấu đình, chùa”, Trinh Trinh tâm sự.

Ở tuổi 39, nữ nghệ sĩ cho rằng cô được tổ nghiệp bù đắp khi kết hôn với người anh mình thần tượng trong nghề – NSƯT Kim Tử Long. Là vợ nghệ sĩ nổi tiếng, Trinh Trinh sống khép kín hơn. Thay vì dựa hơi chồng để phát triển sự nghiệp, cô lui vào hậu trường, chuyên tâm làm vợ, làm mẹ.

Nghệ sĩ Kim Tử Long cho hay từ khi lấy anh, Trinh Trinh từ chối tới 50% show diễn, dành thời gian lo cho gia đình bốn thành viên gồm hai vợ chồng, con trai út và con gái riêng của Kim Tử Long với vợ trước.

“Tôi khá nóng tính, đặc biệt rất nghiêm khắc trong công việc. Trên sàn tập, thấy tôi nghiêm sắc mặt hay tỏ ý không vừa lòng, Trinh biết ý, để tâm vào tập tuồng chứ không vừa tập vừa quay qua trò chuyện, bông đùa như những người khác”, nghệ sĩ Kim Tử Long nói về vợ.

Nữ nghệ sĩ tự hào khi nói về chồng: “Từ khi trở thành vợ anh Long, mỗi khi có lời mời đi hát, tôi đều xin ý kiến chồng. Anh chọn lọc show cho vợ và thường chở tôi đi diễn, ở ngoài xe đợi vợ hát xong rồi chở về. Anh Long cũng là ông bố yêu thương con hết mực”.

Con trai đã hai tuổi, nữ nghệ sĩ vẫn không đòi hỏi ở chồng một đám cưới đàng hoàng. Cô tâm sự hai người quyết định đăng ký kết hôn rồi chung sống mà không tổ chức hôn lễ vì khi đó Kim Tử Long vừa ly hôn vợ cũ.

NSƯT Kim Tử Long: 100 nghệ sĩ cải lương chưa chắc có 1 người thành “sao”

“Ở lĩnh vực khác rất dễ dàng có “ngôi sao” nhưng riêng cải lương, sân khấu, trường lớp có thể đào tạo ra 100 người nghệ sĩ nhưng chưa chắc có được 1, 2  người thành “sao” trên sân khấu”, NSƯT Kim Tử Long chia sẻ quan điểm.

Nhiều năm qua, “rồng vàng cải lương” một thời Kim Tử Long luôn trăn trở về nền nghệ thuật sân khấu truyền thống của nước nhà. Anh chỉ ước nguyện mình nghề của mình có một nơi chốn để tất cả những nghệ sĩ cải lương có thể tụ hội, được sống hết mình trong nghệ thuật. Dân Việt đã có cuộc trò chuyện với anh xung quanh những trăn trở này.

Không được trọn vẹn trong hôn nhân và bản thân anh dường như cũng có phần khắc nghiệt không muốn con gái mình – Kim Phụng bước chân vào lĩnh vực nghệ thuật, là do anh sợ con không thể vượt qua được cái bóng của mình?

Nghệ sĩ Kim Tử Long

– Từ xưa đến giờ, tôi lúc nào cũng muốn các con của mình học hành và theo đuổi những nghề nghiệp mà xã hội tôn vinh như bác sĩ, luật sư… chứ tôi không muốn con mình bước theo con đường mình đã đi. Tôi không cấm con mà thuận theo những gì con muốn.

Kim Phụng có dòng máu của tôi nên khi lớn lên trốn tôi để đi học hát, học hát không được thì chuyển qua học kịch, học điện ảnh… Đó là tự Kim Phụng đi học chứ tôi không ép, không bắt. Một thời gian sau, khi Kim Phụng đi hát được vài chương trình thì tôi mới theo dõi và cảm thấy Kim Phụng yêu nghề, thật sự muốn đi theo nghệ thuật nên tôi mới hun đúc, vun đắp cho con. Sự vun đắp ở đây tôi muốn nói đó chính là góp ý để con diễn được hay hơn chứ không phải lấy tên để cậy quyền bắt buộc hay xin người này, người kia cho con mình vai diễn lớn…

Kim Phụng không dựa vào cái bóng của cha đã có thể làm được rất nhiều thứ. Vậy thì ngoại trừ ca hát, diễn kịch, đóng phim ra anh đã thấy con mình có năng khiếu, có tài năng thì anh có hướng cho con mình đi theo để bảo vệ cái nôi của cải lương nước nhà?

– Đào tạo ra một diễn viên kịch nói, ca sĩ hay một diễn viên điện ảnh rất dễ. Bạn có sức vóc, có năng khiếu biểu diễn thì bạn có thể nổi tiếng hoặc được nhiều người chú ý. Nhưng đào tạo ra một nghệ sĩ cải lương rất khó nên tôi không chú trọng cũng không mong mỏi con mình có thể đi theo.

Bởi vì cái nghề này nó trở thành một nghệ sĩ giỏi, trở thành “ngôi sao” thì mới có được cuộc sống tạm ổn định, chứ còn một nghệ sĩ thường thì cuộc sống rất bếp bênh, rất khổ. Chưa kể, Tổ nghiệp của cải lương, sân khấu định dạng cho ai là “sao”, cho sự nghiệp người nào đó lên đến đỉnh điểm nữa dù rằng có thể người đó không có sắc vóc, không đẹp nhưng khi bước lên sân khấu là tự hình chung mình thấy họ như có một vầng hào quang bao quanh, nổi bật khiến ai cũng phải chú ý.

Ở lĩnh vực khác rất dễ dàng có “ngôi sao” nhưng riêng cải lương, sân khấu, trường lớp có thể đào tạo ra 100 người nghệ sĩ nhưng chưa chắc có được 1, 2  người thành “sao” trên sân khấu.

Nói như thế, lớp trẻ kế thừa sân khấu cải lương bây giờ đã và đang thiếu đi sự nổi bật, thu hút sự chú ý của người đi trước hay là không có được kịch bản, không được đào tạo bài bản, khán giả không còn yêu thích…, theo anh là do yếu tố nào?


– Cái đó mình rất khó so sánh, mình không thể so sánh thế hệ đàn anh với thế hệ sau này. Mỗi thế hệ đều có lượng khán giả khác nhau nhưng cái quan trọng là có giữ được lâu hay không .

Tôi cảm thấy thế hệ của tôi có thể gọi là không may mắn bằng lớp trẻ sau này. Lớp trẻ sau này may mắn có công nghệ hiện đại, sân khấu đẹp, âm thanh ánh sáng hoàn hảo, rồi phòng thu hay cái gì cũng hiện đại hết. Còn chúng tôi ngày xưa, hát rạp, tất cả âm thanh, ánh sáng, cảnh trí đều là tự mình làm hết. Tuy nhiên, lớp chúng tôi may mắn hơn thế hệ bây giờ là lúc ấy là sân khấu hoàng kim.

Lúc đó chưa có gì hết nên khán giả chỉ biết đến sân khấu và một vở diễn chúng tôi có thể diễn mấy trăm suất, cả ngàn suất. Vì vậy cho nên khi mình diễn một vở nhiều lần và nhuần nhuyễn sẽ dễ để lại ấn tượng hơn, đi sâu vào lòng khán giả hơn.

Còn bây giờ các bạn chỉ diễn một hai đêm là hết, tập tành một vở diễn cực khổ để ra ngoài hát 2, 3 đêm rồi dẹp. Và chính vì chỉ hát 2, 3 đêm nên các bạn lơ là, không quan trọng trong lúc tập dợt, tập sơ sài rồi ra hát cho có chứ hát 2, 3 ngày tập chi cho nó cực khổ. Trong đầu suy nghĩ như vậy nên các bạn không có vai nào ấn tượng.

Thật ra khán giả họ vẫn luôn quan tâm đến cải lương, ví dụ, vở “Nửa đời hương phấn” được dựng lại cũng là sự kiện đáng chú ý, anh có thấy như vậy?

– Khán giả cải lương luôn muốn xem những vở hay, họ vẫn nôn nao muốn đến rạp để xem những vở do “kép, đào” họ yêu thích thể hiện bên ngoài chứ không phải qua mạng, qua băng, đĩa. Tuy nhiên, quan trọng nhất, thành phố mình không có rạp hát cải lương ngoại trừ rạp hát Thủ Đô. Nhưng hiện nay nhà hát cũng đã cũ, xuống cấp từ ghế đến âm thanh, sân khấu…

Các nghệ sĩ vẫn luôn thực hiện những vở diễn cho riêng mình hoặc tái dựng lại các vở diễn kinh điển nhưng kinh phí để thực hiện luôn ở con số “khủng” thì làm sao có thể biểu diễn thường xuyên. Vấn đề giá vé cũng khiến cho khán giả nghi ngại nhưng nếu bán giá vé không cao thì làm sao có thể trang trải, bù lỗ cho chi phí đã bỏ ra. Và những vở diễn, liveshow riêng đa phần chỉ là những trích đoạn cũng chỉ diễn 1-2 đêm.

Tâm nguyện của anh chính là mong muốn có “thánh đường” riêng cho nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tử?

– Đúng vậy. Vì không có sân khấu riêng nên khi các nghệ sĩ thực hiện phải vào các nhà hát như Bến Thành, Hòa Bình, Thủ Đô… Chi phí cho địa điểm đã hàng chục triệu đồng, chưa kể chi phí tập dợt. Dù tôi có yêu nghề cỡ nào thì cũng chỉ “gồng” thực hiện 1, 2 lần để tri ân khán giả, được thỏa lòng với nghệ thuật.

Chưa kể cảnh trí, phục trang diễn xong lại bỏ nên rất hoang phí. Đâu phải chỉ riêng tôi mà các nghệ sĩ khác cũng chịu cảnh như vậy. Điều đau lòng hơn trước thực trạng hiện nay là khán giả muốn đi coi cải lương thì không biết xem ở đâu. Sân khấu cho cải lương hiện nay cũng là tạm bợ chứ không phải là một cái rạp hát chuyên biệt, dành riêng cho cải lương.

Thẳng thắn, thật sự mà nói là chúng tôi không có rạp hát cho riêng mình. Nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhưng lại không có đất, một nơi chốn để nó phát triển. Ở đây, tôi không nói đến sự trở lại thời hoàng kim ngày xưa của cải lương mà là sự tồn tại, truyền lại cho khán giả, lớp trẻ để được học, hiểu.

Tôi chỉ ước mong các cơ quan lãnh đạo đầu tư một cái rạp cải lương chỉn chu, tử tế, đầy đủ trang thiết bị, giá thuê thấp một chút để anh, em nghệ sĩ có nơi, chốn đàng hoàng và cũng không phải hoang phí những thứ không đáng có. Hoặc chúng ta kết hợp với du lịch để có thể quảng bá, bảo tồn môn nghệ thuật truyền thống này.

Bây giờ nếu lớp chúng tôi hoặc những người lớn tuổi mất đi thì ai đến xem, ai tìm hiểu và biết được môn nghệ thuật này.

Nguồn: Đất việt