Nghệ sĩ Kim Hiền: Tài sản quý giá của người nghệ sĩ là những vai diễn

0
126

Nghệ sĩ Kim Hiền từng được cố giáo sư Trần Văn Khê dành nhiều lời khen ngợi. Đó là khi giáo sư có dịp xem chị diễn ở Lăng Ông – Bà Chiểu gần 10 năm trước.

Ngày bái sư, Kim Hiền nằm xuống cho thầy đánh ba cây roi: roi thứ nhất để nhắc trò nhớ phải luôn tôn sư trọng đạo; roi thứ hai dạy rằng có hát hay diễn giỏi cũng không được “ta đây”, không coi khinh người hát dở hơn mình; roi thứ ba là lời căn dặn đối với người trong nghề phải luôn biết kính trên nhường dưới. Sau khi trở thành học trò của NSƯT Ngọc Khanh, sự nghiệp của cô đào hát bội miền biển Vũng Tàu đã hoàn toàn bước sang trang mới.

15 năm kiên nhẫn chờ thời 

NSƯT Ngọc Khanh là giảng viên Khoa Hát bội, Trường Nghệ thuật Sân khấu II (nay là Trường đại học Sân khấu Điện ảnh TP.HCM) từ năm 1975. Bà đã đào tạo thành công nhiều thế hệ học trò, trở thành những nghệ sĩ hát bội nổi tiếng. Nhưng có một người mà bà luôn nhắc về như một học trò đặc biệt: nghệ sĩ Kim Hiền – hiện là đào chánh của đoàn nghệ thuật hát bội tuồng cổ Ngọc Khanh. Người học trò ấy đến bái sư khi đã ở tuổi 29, trước đó là đào chánh của đoàn nghệ thuật tuồng cổ Minh Sen (Vũng Tàu).

Những năm về sau, khi đoàn hát tuồng cổ Ngọc Khanh biểu diễn trong các dịp lễ Kỳ yên, khán giả có thể được xem những hóa thân của nghệ sĩ Kim Hiền qua các vai diễn: Lưu Kim Đính, Hồ Nguyệt Cô, Đào Tam Xuân, Phàn Lê Huê, Tô Đắc Kỷ… Nữ nghệ sĩ có chất giọng rất tốt, vũ đạo nhuần nhuyễn, thể hiện tinh thần khí chất của từng nhân vật và lối diễn đầy cảm xúc.

Nghệ sĩ Kim Hiền cùng người thầy của mình - NSƯT Ngọc Khanh (phải) - trong dịp ngày giỗ Tổ sân khấu năm 2015Nghệ sĩ Kim Hiền cùng người thầy của mình – NSƯT Ngọc Khanh (phải) – trong dịp ngày giỗ Tổ sân khấu năm 2015

Kim Hiền từng được cố giáo sư Trần Văn Khê dành nhiều lời khen ngợi. Đó là khi giáo sư có dịp xem chị diễn ở Lăng Ông – Bà Chiểu gần 10 năm trước. Ngồi ở hàng ghế khán giả, ông chú ý đến từng điệu bộ, nhịp hát, biểu cảm của cô đào trên sân khấu. Cuối buổi diễn, ông bước lên sân khấu cầm tay Kim Hiền dành lời khen tặng. Giáo sư nói với NSƯT Ngọc Khanh rằng bà đã có được một học trò xuất sắc, ngoài giọng hát rất hay thì diễn xuất của Kim Hiền cũng vô cùng ấn tượng, những thăng trầm trong cuộc đời, tâm cảm của nhân vật đều được nữ nghệ sĩ thể hiện có hồn.

“Sau đó thầy Ngọc Khanh có đưa tôi đến thăm nhà giáo sư, lĩnh ngộ rất nhiều điều ông gửi gắm. Tôi vẫn còn nhớ mãi, giáo sư nói rất muốn đưa đoàn Ngọc Khanh sang Ý biểu diễn. Nhưng sức khỏe ông đã không cho phép…” – nghệ sĩ Kim Hiền bùi ngùi. Cuộc gặp gỡ với giáo sư Trần Văn Khê cũng là kỷ niệm khó quên trong cuộc đời làm nghệ thuật của chị. Lời khen năm ấy ở lại như một dấu ấn với nghề. Nhưng để có được một ngày vui như vậy, là đổi lấy biết bao năm dài học hỏi không ngừng nghỉ, cố gắng bằng niềm đam mê dành cho hát bội “không thể lý giải nổi” của nghệ sĩ Kim Hiền. Chị, có lẽ cũng như tất cả các nghệ sĩ của đoàn hát bội Ngọc Khanh, xem sân khấu là thánh đường, những vai diễn là tình yêu, là sự sống.

Năm Kim Hiền 14 tuổi, hát bội vẫn còn thuở vàng son. Khi ấy, cô bé theo đoàn Minh Sen, suốt bốn năm chỉ ngồi cánh gà xem các nghệ sĩ biểu diễn, có được ra sân khấu cũng chỉ ở vai trò quân sĩ, đi nhặt tiền khán giả cho hoặc hơn một chút là “đi thày” (cầm quạt đi sau đoàn rước lễ trong nghi thức cúng đình). Đó là vào những năm cuối thập niên 1980.

Nhà nghèo, không thể vào thành phố học nghệ thuật bài bản, Kim Hiền cứ học lóm người đi trước, tự mày mò ca diễn, tự bắt chước hóa trang. Rồi cũng được lên sân khấu, hát những vai nhỏ được nhận thù lao là 7.000 đồng/suất. Sau đó lên vai thứ rồi vai chính, thù lao được tăng lên 70.000 đồng/suất. Nghệ sĩ Kim Hiền tâm tình: “Thu nhập ít ỏi như vậy, nhưng tôi vẫn hát vì quá mê nghề.

Nghệ sĩ Kim Hiền

Soạn giả Hữu Lập – người thường soạn tuồng cho tôi hát – có lần nói: “Con hãy thử bước ra bên ngoài mở mang tầm mắt, để tìm cơ hội phát triển nghề nghiệp hơn”. Năm 2000, mẹ tôi có dịp đi xem đoàn Ngọc Khanh diễn, mới gặp và xin trưởng đoàn cho tôi theo hát. Và cũng chính khi ấy tôi mới biết, mình còn rất nhiều thiếu sót, trách sao được đi diễn bao nhiêu năm vẫn cảm giác mình đang dậm chân tại chỗ”.

Sau nghi thức bái sư, NSƯT Ngọc Khanh dành một tháng tập trung dạy lại vũ đạo, điệu bộ, cả cách hóa trang sân khấu cho Kim Hiền. Từ đào chánh đoàn Minh Sen, khi qua đoàn Ngọc Khanh, suốt gần hai năm, Kim Hiền chỉ được giao vai tì nữ. Ở tuổi 29 và đã có 15 năm hoạt động trong nghề, bước chuyển đổi này khiến chị như trở lại vị trí ban đầu. “Có nhiều lúc thấy buồn thấy nản, nhưng thầy nói chưa thể giao vai chính cho tôi được. Thầy chuyên tâm truyền dạy cho tôi tất cả những vai diễn mà thầy từng thể hiện xuất sắc trên sân khấu, dạy từng cử chỉ điệu bộ, từng lời nói, để tôi lĩnh ngộ và luyện tập cho thuần thục. Mãi về sau này, nhìn lại tôi mới hiểu rằng, duyên may gặp gỡ NSƯT Ngọc Khanh cũng chính là cơ hội mà Tổ nghiệp đã ban tặng để tôi được đi tiếp, được hóa thân trọn vẹn với nghề” – nghệ sĩ Kim Hiền bộc bạch.

Dù chỉ là một khán giả, vẫn cháy hết mình trên sân khấu

Nhưng cũng như hoa quỳnh nở muộn, thời điểm Kim Hiền vững vàng với nghề và đủ sức tỏa sáng trên sân khấu, lại là lúc hát bội đã qua thời vàng son. Mỗi năm chỉ có được mùa rộn ràng nhất là mùa hát chầu vào những dịp lễ Kỳ yên, biểu diễn trong các nghi thức cúng đình. Nhiều suất diễn theo nghi thức cúng đình vào lúc bốn giờ sáng, canh khuya có những người nghệ sĩ lặng lẽ hóa trang, nâng niu vẽ mặt, chăm chút từng đường nét. Nhưng rồi khi bước ra sân khấu biểu diễn, nhìn xuống bên dưới chỉ có một khán giả là người đánh trống chầu.

“Đó là những lúc thấy lòng mình tê tái, nhưng đã hóa thân thành nhân vật rồi, tất phải cố gắng để tròn vai. Dù bên dưới chỉ có một khán giả đi chăng nữa, thì trên sân khấu người nghệ sĩ vẫn cháy hết mình. Càng ít khán giả mình càng phải hát, phải diễn làm sao cho không khí thật sinh động” – nghệ sĩ Kim Hiền nói.

NS Kim Hiền trong vở San Hậu

Nhưng bù lại, vẫn còn những nơi chốn như đình Phú Nhuận, Lăng Ông – Bà Chiểu (TP.HCM) luôn có đông khán giả đến xem hát bội. Vẫn còn những người trẻ yêu thích bộ môn nghệ thuật này và tiếp tục thế hệ ông bà, cha mẹ gìn giữ một giá trị vàng son. Và những người nghệ sĩ dẫu biết nghề vất vả vô cùng, vẫn dành cho sân khấu tình yêu tha thiết, thủy chung. Kim Hiền cũng như nhiều nghệ sĩ khác trong đoàn Ngọc Khanh, dù điểm diễn có xa xôi đến mấy, đều lặn lội đến cùng nhau, để lại được hóa thân, để được khóc cười với vai diễn.

“Cứ bước ra sân khấu là không còn biết mình là ai nữa” – câu nói này, hình như người viết đã được nghe từ những chia sẻ tận đáy lòng của các nghệ sĩ hát bội. Với nghệ sĩ Kim Hiền cũng vậy, không biết bao lần bị thương trên sân khấu, nhưng rồi lần nào vào vai cũng “cháy hết mình” như thể đó là vai diễn sau cùng. Chị kể có lần té xe bị gãy chân, đầu gối còn hai chiếc đinh ốc để cố định xương, nhưng khỏe lại là tập đi, tập múa và diễn cả lớp chạy gối liên tục ba suất liền vở Lưu Kim Đính sát tứ môn. Có lúc quá nhập vai mà bị bong gân, hay những khi độc diễn suốt một giờ đồng hồ để rồi ngất xỉu ngay khi màn nhung khép lại…

Đời nghệ sĩ cho đến lúc về chiều, tài sản không có gì quý giá hơn ngoài những vai diễn. Nghệ sĩ Kim Hiền còn gìn giữ được kỷ niệm với nghề bằng những bộ trang phục, mũ mão cân đai… Chị diễn được cả vai đào lẫn kép, đào thương lẫn đào võ, và mỗi vai diễn đều cố gắng dành dụm may một bộ phục trang cho riêng mình. Mỗi suất diễn được nhận thù lao là 600.000 đồng, Kim Hiền để dành hai mùa chầu thì may được một bộ trang phục.

Thời gian qua, dịch bệnh kéo dài khiến sân khấu không thể hoạt động, Kim Hiền nói ít hôm nữa, chị sẽ hóa trang vào các nhân vật nhờ con trai chụp ảnh kỷ niệm cho đỡ nhớ nghề. Còn mãi trong tâm thức chị là thanh âm của những vở diễn: Thần nữ dâng ngũ linh kỳ, Đắc Kỷ Trụ Vương, Cửu Nhĩ Phi Long, Lưu Bị cầu hôn giang tả… 

Nghệ sĩ Bạch Long: Nước mắt phía sau nụ cười…

Nghệ sĩ Bạch Long luôn dễ lấy nụ cười khán giả, dẫu là trẻ con hay người lớn. Nhưng cuộc đời ông lại lắm đắng cay, nhiều nước mắt, có lúc khán giả cười, nhưng lòng ông như vụn vỡ thành trăm mảnh.

Đồng Ấu Bạch Long: Đằng sau một thương hiệu

Căn phòng trọ ở quận Gò Vấp (TP.HCM) là nơi trú mưa nắng của nghệ sĩ (NS) Bạch Long nhiều năm qua. Một khoảng nhỏ trang trọng ông dành đặt bàn thờ tổ và là nơi lưu giữ một số dụng cụ của nghề hát, trong đó có chiếc yếm đỏ, cây giáo tuổi đời đã… ngót nghét 52 năm. Đi hát nhiều năm, cũng từng có thời hoàng kim nhưng nay vẫn ở trọ, nhưng ông không hối tiếc.

Ông vẫn nhắc về Đồng Ấu Bạch Long như một dấu son với những vui buồn lẫn lộn. Năm 1990, NS Bạch Long nhận được kịch bản Cóc kiện trời để dựng phát trong dịp tết Trung thu. Ông xin phép chuyển thể từ kịch nói thành cải lương tuồng cổ, gom hết những NS nhí trong đoàn Minh Tơ như: Tú Sương, Quế Trân, Trinh Trinh… rồi dạy hát, chia vai. Sau khi phát sóng, vở diễn trở thành hiện tượng với rất nhiều lời khen ngợi bởi kịch bản hay, nghệ sĩ lại rất độc đáo.

Nghệ sĩ Bạch Long

Ông chủ rạp Đại Đồng đề nghị NS Bạch Long tiếp tục phát triển mô hình này. Với sự yêu thích nồng nhiệt từ khán giả, ông bắt tay vào hiện thực hóa ước mơ, trước tiên với mong muốn đào tạo NS và khán giả kế thừa. Gần 20 kịch bản tiếp tục ra đời tại đoàn Đồng Ấu Bạch Long như: Cầu vồng đàn thỏ, Con ngựa bạch và củ cải khổng lồ, Cảm ơn chú khỉ, Liên hoa châu tử... Mỗi sáng Chủ nhật, trẻ con lại nô nức theo chân cha mẹ đến đây tìm niềm vui. Tiếng lành đồn xa. Đầu những năm 1990, sân khấu cải lương bắt đầu thoái trào, nhưng đoàn hát thiếu nhi lại “ăn nên làm ra”.

Đó là những ngày hạnh phúc nhất với NS Bạch Long. Nhìn những đứa trẻ tập tành, diễn xuất, lòng ông vui đến lạ. Nhưng cuộc vui nào cũng đến lúc tàn. Đoàn hát gặp khó khăn, NS Bạch Long phải bù lỗ một thời gian dài. Gồng gánh đến mỏi mệt, cộng với những áp lực từ bên ngoài, ông buông bỏ vào năm 1996. Những đứa trẻ năm nào lần lượt rời đi. Ông buồn vì ước mơ dở dang, vì lòng người khó đoán, nhưng tự an ủi rằng đó là cuộc đời, không ai tránh khỏi trắc trở.

Kinh tế kiệt quệ, ông đưa chiếc đồng hồ nhờ học trò đi cầm. Cậu học trò vẫn mang về cho thầy 300.000 đồng, kèm chiếc đồng hồ khiến ông ngạc nhiên. “Đó là tiền được trích ra từ lương làm bảo vệ của học trò. Đồng hồ của tôi họ không chịu cầm. Học trò vừa về, tôi đóng cửa và bật khóc. Ngần ấy năm, tôi vẫn chưa thể quên được cảm giác đau đớn đó”, ông tâm sự.

Bốn năm sau đó, ông thất nghiệp, chìm đắm trong nỗi buồn. Ông không lên tiếng nhờ sự hỗ trợ từ chị em trong gia đình, bởi từ nhỏ đã vốn không muốn làm phiền ai. Có lúc, ông từng nghĩ, chỉ khi nhắm mắt xuôi tay mới buông bỏ hết. Nhưng nghề hát đã chọn ông, và buộc ông phải tiếp tục cống hiến.

Một người phụ nữ lạ mặt tìm đến đình Cầu Quan – nơi NS Bạch Long trú ngụ – khuyên: “Đừng có suy nghĩ bậy bạ, đời cậu không khổ hơn tôi”. Người phụ nữ rời đi, để lại trong ông vô vàn câu hỏi: Đó là ai? Vì sao lại đọc được suy nghĩ của mình?… Sau này, ông vẫn tin đó là một phép màu, như chiếc phao cứu mạng một kẻ đuối nước.

Nghệ sĩ Bạch Long và nhóm Líu LoNghệ sĩ Bạch Long và nhóm Líu Lo

Nỗi buồn sau sân khấu

Ai cũng bảo NS Bạch Long kém may mắn. Ông biết nhưng vẫn lấy lý do “số phận an bài” để khỏa lấp. Ông sinh ra trong gia đình có truyền thống nghệ thuật với cha là NSND Thành Tôn, mẹ là NS Huỳnh Mai, cậu là NS Minh Tơ, một ông chủ gánh hát lẫy lừng. Sinh ra èo uột, NS Bạch Long được gia đình mang cho một người quen trong đoàn hát. Lớn lên, ông mới biết cha mẹ ruột, bởi thời thơ ấu chỉ toàn gọi anh hai, chị hai.

Những khi rảnh rỗi, cậu bé Tùng (tên thật của NS Bạch Long) lại rủ rê em trai – NS Thành Lộc – chơi trò xem hát. Ông cắt thùng giấy, vẽ khung cảnh sân khấu, bán vé với giá là ba sợi thun. Cũng chính ông là người đầu tiên vẽ mặt cho em trai để hóa thân thành quân sĩ, rồi cùng nuôi ước mơ được đứng trên sân khấu.

NS Bạch Long vào đoàn Minh Tơ, ngồi gõ chập cheng ở ban nhạc. Một hôm, NS Minh Tơ gọi ông vào, họa mặt để thế vai trong tuồng Ngô Tùng Quân xuất thế. Mừng, vui, lo lắng đan xen khiến ông đọc sai thoại. Khán giả cười rần. Từ đây, ông rời ban nhạc để lên sân khấu học việc. Tuồng nào có vai kép con, ông sẽ được giao, còn không sẽ đóng quân sĩ. Một lần nọ, nghệ sĩ đóng vai quân sĩ có thoại đau bụng đột xuất, ông được đẩy ra thay thế. Nhưng ông đâu biết gì, cứ thoại theo suy nghĩ, lại gây ra trận cười no nê cho cả khán giả lẫn nghệ sĩ, và lại bị đuổi vào trong.

Một lần nọ, diễn chung với cha ruột, ông quên mất đang hóa thân vào nhân vật, lại sai thoại. Khán giả cười ngặt nghẽo. Bị la, bị quát có đủ, nhưng cậu bé Bạch Long ngày ấy chỉ buồn chút rồi thôi, bởi sự hồn nhiên của trẻ nhỏ như liều thuốc xoa dịu tất cả. Sau này ngẫm lại, ông nghĩ đó có phải sự an bài của tổ nghiệp, buộc ông phải mang tiếng cười cho khán giả?

Bạch Long từng mơ được làm kép chánh. Ông học lóm những nghệ sĩ trong đoàn như: NS Thanh Tòng, NS Bửu Truyện… Rảnh rỗi, ông lại mang gươm giáo ra luyện tập, nếu may mắn sẽ được các NS chỉ dạy thêm. Nhưng giấc mộng nhanh chóng vỡ tan vì sắc vóc của ông quá nhỏ bé, không đủ tiêu chuẩn. Gần mười năm trầy trật ở đoàn hát, có lúc ông tự hỏi tương lai sẽ đi về đâu.

Cơ may cuối cùng cũng đến khi NS đóng vai hài trong vở Thanh gươm nữ tướng bị bệnh đột xuất. Một lần nữa, NS Bạch Long được chọn thay thế và lần này may mắn đã mỉm cười với ông. Nhờ những lần đứng sau cánh gà học thuộc làu lời thoại, tự phân tích nhân vật và lối diễn xuất của đàn anh, ông mang tất cả điều đó vào vai diễn khi lên sân khấu. Đêm đó, khán giả vỗ tay rần rần mỗi lần ông xuất hiện. Rồi đàn anh có “bến đỗ mới”, NS Bạch Long được chọn lên giữ trụ vai hài trong đoàn. “Không riêng tôi mà nhiều anh chị nghệ sĩ cũng từng thành danh theo cách này. May mắn là thứ gia vị độc đáo trong cuộc đời”, ông cười nhớ lại.

Chuyện “Kép Tư Bền” không chỉ có ở tiểu thuyết. Suốt cuộc đời mình, có lẽ NS Bạch Long không thể quên suất diễn khi mẹ nuôi ông qua đời. Đêm đó, đoàn vẫn diễn. Ông dằn vặt chuyện đi hay ở. Cuối cùng, ông vẫn có mặt ở sân khấu, sau khi được hàng xóm giúp đỡ lo tang gia. NS Bạch Long vẫn khiến khán giả cười ồ, còn lòng ông vụn vỡ thành trăm mảnh. Hạ màn, ông ôm mặt khóc rưng rức. Lần đầu tiên ông thấm thía hết nỗi đau của người nghệ sĩ, dẫu đời có đau khổ dường nào thì vẫn phải sống trọn với vai diễn khi bước ra sân khấu.

Nỗi đau này chưa dứt, nỗi đau khác lại chất chồng. Cuộc tình với nhiều mộng ước tan vỡ. “Một hôm, ba cô ấy tìm đến đoàn hát, hỏi tôi sẽ làm gì để nuôi con gái ông. Sự nghiệp chưa có, tiền cũng không, tôi chấp nhận buông bỏ”, ông nhớ lại. Nỗi đau khiến người ta ngã quỵ hoặc mạnh mẽ hơn. Ông chọn cách thứ hai, dồn hết sức vào sự nghiệp. Hàng loạt vai diễn sau đó như: Thánh Gióng trong Phù Đổng thiên vương; Tề Thiên đại thánh trong 7 con yêu nhền nhện… đều khiến khán giả thích thú.

Nếu NS Phi Thoàn nổi danh với hài ca nhạc, NS Văn Chung chỉ cần té cái thôi khán giả cũng cười, thì NS Bạch Long tạo nên trường phái mới: hề vần. Ông thường xuyên sáng tạo những câu thoại có vần điệu bắt tai để gây cười. Ý tưởng lóe lên rất nhanh, vai nào cũng thành công mỹ mãn vì rất duyên dáng. Sắc vóc nhỏ bé, điều từng cản trở NS Bạch Long đến với giấc mơ kép chánh, nay lại trở thành ưu thế, bởi chỉ nhìn ông, khán giả cũng dễ cười. Từ năm 1982, cái tên Bạch Long vụt sáng.

Đoạn đường gần mười năm với nhiều niềm vui, để rồi Đồng Ấu Bạch Long như một ngã rẽ lắm nỗi niềm. Hai tuần sau khi gặp người phụ nữ lạ mặt tại đình, ông nhận được cuộc gọi từ ông bầu Huỳnh Anh Tuấn, nhờ thế vai cho một vai diễn trong mười suất của vở Ba chàng lính ngự lâm. “Tôi nhận lời liền vì bấy giờ đã quá khốn cùng. Mười suất diễn sẽ đỡ đói được mười ngày”, ông nhớ lại. Suất diễn đầu tiên có NS Bạch Long tham gia, khán giả cười không ngớt.

Cũng từ đây, cuộc đời làm nghệ thuật của ông lại bén duyên mới: sân khấu kịch nói. Hàng loạt vở diễn trong chương trình Ngày xửa ngày xưa của Idecaf, chú chó Lu Lu trong nhóm Líu Lo đã trở thành ký ức khó quên với nhiều thế hệ khán giả nhí. Như một mối duyên, cuộc đời lại đưa đẩy ông đến với trẻ con và mang lại niềm vui cho chúng. Có vai diễn, cát-sê không đủ bù tiền phục trang, làm tóc, nhưng lúc nào ông cũng thấy vui vì được sống trọn vẹn với nghề, sau cú lội ngược dòng ngoạn mục.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/nghe-si-bach-long-nuoc-mat-phia-sau-nu-cuoi-a1443983.html