Nghệ sĩ Hồng Nga: Người mẹ trên sân khấu và đời thật

0
230

Trên sân khấu, Hồng Nga khiến khán giả căm phẫn trong nhiều vai phản diện, và cũng lấy không ít nước mắt của họ với vai người mẹ. Ngoài đời, bà cũng nặng nỗi niềm khi làm mẹ.

Hơn nửa thế kỷ làm mẹ của bốn thế hệ nghệ sĩ

Hơn nửa thế kỷ làm nghề, niềm đam mê cải lương của nghệ sĩ Hồng Nga chưa bao giờ thôi nồng nhiệt. Trong mớ ký ức còn lại, bà nói ngày đó luôn ước được về đoàn Thống Nhất, đứng diễn cạnh NSND Út Trà Ôn, “có chết cũng mãn nguyện”.

Ước mơ đó thành hiện thực, mở ra chặng đường mới trong sự nghiệp của nghệ sĩ Hồng Nga. Nhưng con đường ấy không bằng phẳng. Đêm ra mắt, những cái tên Bạch Tuyết, Phượng Liên được khán giả hân hoan đón nhận. Nhưng khi nghe hai tiếng Hồng Nga, họ im lặng, xen vào đó những tiếng xì xào: “thấy ghê”, “xấu quá”… Nhớ lại, bà chỉ cười, tự nhận mình xấu thật, vì đã thấp người, lại nặng đến 60kg với gương mặt rất tròn.

Hồng Nga thời thiếu nữ chưa có khái niệm làm đẹp, cũng chẳng biết cải thiện vóc dáng bằng cách mang giày cao gót. Tài sản duy nhất của bà là giọng hát tốt, chỉ cần cất lên sau bức màn nhung, khán giả đã vỗ tay rần rần.

Hồng Nga khóc, than thở với NSND Út Trà Ôn. Ông khuyên bà chuyển sang đóng đào mụ và bà đồng ý. Bà nhớ như in lần đầu được hóa trang vai mụ, bà nhìn vào gương giật mình hỏi NSND Út Trà Ôn: “Vì sao con trông giống như con cọp trên bia La De vậy?”. Ông mắng: “Mặt mày bự như thế làm sao vẽ cho đẹp được”.

Bỏ lại những tủi hờn, lo lắng sau lưng, bà bước lên sân khấu đầy tự tin, kiêu hãnh với vai mẹ trong tuồng Yên Ly Sơn, còn NSND Út Trà Ôn đóng vai con. Một lần, Hồng Nga đứng sai vị trí khiến NSND Út Trà Ôn nổi giận, chửi lẩm bẩm trên sân khấu. Bà ghé tai nói: “Cậu nên nhớ con đang… làm mẹ cậu đó”. Với tính khí của NSND Út Trà Ôn, bà biết cần phải trốn ngay sau đêm diễn để tránh “hậu họa”.

Từ bước khởi đầu này, Hồng Nga tiếp tục làm “mẹ” của ba thế hệ nghệ sĩ nữa, trong đó thế hệ thứ hai gồm: NSND Bạch Tuyết, NSND Lệ Thủy, NSƯT Thanh Sang… Một lớp nghệ sĩ khác đóng vai con của Hồng Nga gồm: NSƯT Vũ Linh, NSƯT Thoại Mỹ, NSND Thanh Ngân, Tài Linh, Thanh Hằng… Trên sân khấu kịch, bà đóng vai mẹ của các nghệ sĩ trẻ hơn như: cố nghệ sĩ Anh Vũ, Gia Bảo…

Hồng Nga trong vở Duyên kiếpHồng Nga trong vở Duyên kiếp

Khán giả, hậu bối đều gọi bà là quái kiệt, bởi vai nào cũng không thể làm khó Hồng Nga. Nhiều thế hệ vẫn run rẩy khi xem Hồng Nga đóng vai Thanh Đề (vở Mục Liên Thanh Đề), vai bà mẹ chồng (vở Duyên kiếp). Từng cái nhếch mép, bĩu môi của Thanh Đề, hay từng câu nói cử chỉ của bà mẹ chồng đều khiến khán giả phẫn nộ.

Hồng Nga kể: “Tôi lãnh đủ mọi sự oán ghét sau những vai này. Đi đến đâu cũng có thể bị khán giả chửi. Tôi giải thích với họ đó chỉ là vai diễn chứ không phải tôi ngoài đời thật. Họ bảo hiểu, nhưng vẫn chửi cho đỡ tức. Nhưng tôi không buồn hay xem đó là thiệt thòi. Bởi khi có kẻ ác, mới làm nổi bật người hiền, từ đó khán giả biết phải trái, đúng sai cũng là một bài học. Hơn nữa, với tôi, đây là nghề, diễn phải thật, phải tới nơi tới chốn”.

Thường những vai mụ, đặc biệt mụ độc, nghệ sĩ khác thường chê không đóng, có khi đến tay Hồng Nga vì quá “ế”. Nhưng bà không buồn, xem đó là cơ hội để thử sức. Khi diễn được nhiều vai, cũng là lúc cơ hội được mở ra nhiều hơn. Hơn nữa, theo quy định của hợp đồng ký vào thời điểm đó, bà phải làm hết mọi việc gánh hát giao mà không được lựa chọn hay từ chối.

Và cũng Hồng Nga, vai cô giáo Lan (vở Tuyệt tình ca), bà Hương Cả (vở Tô Ánh Nguyệt), bà Hậu (vở Tóc trắng mẹ bay)… khiến khán giả rưng rưng nước mắt với tình thương con bao la, những cay đắng, nghiệt ngã phải chấp nhận trong đời. Chất giọng thổ pha đồng, trầm nhưng lại vang buồn như tiếng chuông của Hồng Nga trở nên đắt giá hơn bao giờ hết.

Hồng Nga kể, có lần sau đêm diễn, bà gặp khán giả bên ngoài và trêu: “Tôi bảo họ: Biết xem sẽ khóc đi xem làm chi vậy không biết? Họ quay sang trách tôi làm họ khóc. Tôi cự lại: Thì tôi diễn mà bà không khóc sao được”.

Hơn nửa thế kỷ, Hồng Nga chỉ đóng vai thứ, vai phụ. Nhưng nhắc đến tên bà, ai cũng biết, và không thể quên những vai Hồng Nga từng đảm nhận. Bà tâm sự: “Tôi cười, khán giả cười. Tôi khóc, họ khóc theo. Tôi ác, họ cũng căm phẫn. Đời nghệ sĩ như thế là quá đủ, không mong gì hơn”.

Người mẹ nặng nỗi niềm

Cha Hồng Nga qua đời khi bà còn rất nhỏ. Vì thế, bà luôn khao khát một mái ấm gia đình đủ đầy. Nhưng ước mơ đó vẫn dở dang, qua ba lần đò.

Người chồng đầu, khi bà có con, vài ba bữa gặp nhau một lần, cuối cùng Hồng Nga nhận ra bà bị lợi dụng. Người chồng thứ hai, có với nhau ba mặt con, nhưng bà vẫn một mình gồng gánh, bởi người ta không thương bà, cũng chẳng có trách nhiệm. Đến người chồng cuối cùng, bà vẫn chịu đau khổ. Bởi tình yêu, sự nhẫn nhục của bà cũng không thắng nổi con “ma men” trong con người ông ấy.

Nữ nghệ sĩ tự miêu tả bà như một chiếc ghe cũ và nhỏ, chòng chành giữa sóng nước qua bao nhiêu năm tháng. Bà chấp nhận xem đó là số phận. “Người phụ nữ một thân một mình vượt qua nỗi buồn hôn nhân, tự đứng lên bằng thực lực trong sự nghiệp, vượt qua mọi chèn ép, cay đắng của nghề, đôi lúc cũng phải mỏi mệt chứ. Nhưng điều đó thúc đẩy tôi phải làm việc tốt hơn, đóng được vai người khác không dễ thay thế là vai người mẹ”, bà tâm sự.

Nghệ sĩ Hồng Nga trong trích đoạn Duyên Kiếp:

Mạnh mẽ, bản lĩnh, nhưng những chuyện buồn của quá khứ đôi lúc khiến bà chạnh lòng. Bà vẫn nhớ như in những tháng ngày cày cật lực để đủ tiền nuôi năm miệng ăn, nhưng cái nghèo vẫn cứ đeo bám. Nữ nghệ sĩ mang hai đứa con gái gửi cho người bạn. Ba năm sau, người bạn đó sang Thụy Sĩ định cư, mang theo hai con của bà rồi bị thất lạc. Bà chỉ biết con đã đến trời Âu, nhưng bặt vô âm tín.

Bà không nhớ đã bao nhiêu đêm sống trong lo lắng, sợ hãi, day dứt, tự trách bản thân vì ký ức kinh hoàng này. Ai đã làm mẹ sẽ hiểu, khi con mình sống hay chết, đói hay no đều không biết, thì lòng có lúc nào được bình yên? 18 năm ròng, bà giấu nước mắt vào trong để tiếp tục nuôi dưỡng những đứa con còn lại.

Năm 1996, trong một chuyến lưu diễn châu Âu, nhờ sự hỗ trợ của khán giả, bà tìm lại được con, nhưng lòng Hồng Nga lại vụn vỡ vì cả hai đều không nhận mẹ. Trời lạnh ở xứ người khiến lòng bà như đóng băng. Nhưng sau đó một năm, một trong hai người con đã đến xem Hồng Nga biểu diễn, cầm trên tay một bông hồng tặng mẹ. Bà mừng đến ngất xỉu. Năm sau nữa, chị lại về Việt Nam thăm bà. Dù chị không thể nói tiếng Việt để giao tiếp với mẹ, nhưng nhiêu đó cũng đủ xoa dịu nỗi niềm của bà bấy lâu. Hồng Nga vẫn nhiều ưu tư, trăn trở, dẫu hiểu bàn tay con người không thể đủ sức níu thời gian quay trở lại. Lắm lúc, hai tiếng “giá như” thật chua chát trong cuộc đời một con người.

Hồng Nga ít nhắc lại chuyện cũ. Bà bảo có khi ông trời công bằng, cho bà thành công với vai mẹ trên sân khấu, nhưng vai mẹ trong đời thật lại không được may mắn như vậy. Những giọt nước mắt Hồng Nga từng rơi trên sân khấu, có lúc cho nhân vật, có khi cho chính bà, lẫn lộn vào nhau. Nhưng khổ đau nào cũng qua, nước mắt nào rồi cũng khô dần.

NS Hồng Nga biểu diễn cùng NSND Ngọc Giàu:

Năm 2020, bà đưa con gái sang Mỹ định cư, tìm việc làm. Bà nói bây giờ đỡ lo vì con cũng đã có công việc ổn định. Vì dịch COVID-19, nên nữ nghệ sĩ bị kẹt ở Mỹ một thời gian dài, và mới về lại Việt Nam cách đây không lâu. Hiện bà đang sống một mình tại TP.HCM. Hằng ngày, con trai và con dâu sẽ nấu cơm mang sang.

Những người con còn lại của bà hiện sống tại Áo, Thụy Sĩ và đều có gia đình riêng ổn định. Bà bảo chỉ cần các con sống tốt, có ích cho xã hội, là bà yên tâm. Sau bao buồn đau, giờ đây bà luôn giữ tâm thế bình thản để hưởng trọn vẹn những năm tháng tuổi già. Mong ước lớn nhất của Hồng Nga là vẫn khỏe mạnh để được thường xuyên gặp khán giả, cho trọn kiếp con tằm nhả tơ.

Nghệ sĩ xiếc Phi Vũ: Bội lần gian nan, bội phần vinh quang

Trong suốt bốn mươi mấy năm theo nghề, không phải không có lúc nản lòng, nhiều khi thấy vài người rời đi để làm công việc khác, NSƯT Phi Vũ cũng bị nao núng.

Với nghệ sĩ xiếc, việc đối diện hiểm nguy không có gì lạ, đôi khi, họ còn phải rời sân khấu trên chiếc cáng cứu thương. Nhưng dù vào ra bệnh viện năm lượt, bảy lần thì sau đó họ vẫn cứ bám trụ với nghề. Sự gan góc của nghệ sĩ xiếc không phải không có lý do. Ngoài mưu sinh, họ còn giữ trong mình tình yêu nghề mãnh liệt mà nếu dừng lại, cuộc sống của họ sẽ lắm buồn tẻ.

Xiếc là tình yêu, lẽ sống

NSƯT Phi Vũ thong thả đến buổi hẹn với chúng tôi trong tâm thế của một người đã cũ – cũ bởi thông tin về ông đã dày đặc trên mặt báo, cũ là bởi thời đỉnh cao nghề nghiệp đã qua từ lâu, có nhắc lại cũng chỉ như nhớ thương một thuở, ít nhiều không có câu chuyện mới mẻ. Ông bây giờ, nếu ví von một cách hóm hỉnh, có lẽ giống như một món đồ cổ, vẫn luôn mang nhiều giá trị, nhưng trong dòng chảy của đời sống hiện đại, nếu chẳng hô hào khoa trương, thì sẽ lẩn khuất, trung dung sống cuộc đời riêng.

Theo nghề xiếc từ năm 15 tuổi, đến bây giờ khi mái đầu đã bạc, NSƯT Phi Vũ vẫn gắn bó với nghề, duy chỉ thay đổi về tính chất tiết mục. Ông kể ngày trước, thời còn hừng hực lửa nghề, ông thử đủ trò mạo hiểm từ nhào lộn, đu dây, thăng bằng cho tới cầu bật… Trò nào càng mạo hiểm càng kích thích lửa nghề bên trong người thanh niên gốc Huế. “Có đến 20 trò tôi có thể thực hiện. Ngày trước, những trò tôi diễn hay đều cần nền tảng thể lực tốt, nên từ khi có tuổi, bản thân phải giảm bớt để không bị quá sức. Giờ đây, tôi chủ yếu diễn các trò chọc cười thiếu nhi, những tiết mục đơn giản phục vụ khán giả. Công việc cũng nhẹ nhàng hơn trước rất nhiều”, NSƯT Phi Vũ nói.

Chỉ lên những vết sẹo phía sau đầu, trên mặt, NSƯT Phi Vũ hài hước rằng cha mẹ sinh ra hình hài nguyên vẹn, cho đến khi theo nghề xiếc lại trầy trụa vết thương, từ xước xát ngoài da cho đến chấn thương nặng, phải nhập viện. “Nhiều tiết mục tôi phải đi cấp cứu năm sáu lần, nhưng nằm viện xong, tôi lại diễn tiếp. Lần nặng nhất là lần tôi đu từ dây này nhảy sang dây kia nhưng không có đồ bảo hộ. Đèn sân khấu khi đó không đủ sáng nên khi bay qua, một chân của tôi mắc vào vòng, còn một chân trượt ra ngoài. Tôi té từ độ cao năm sáu mét xuống đất, và phải nằm viện mười ngày. Đợt đó, tôi đi cùng đoàn xiếc Tuổi Trẻ ra miền Trung diễn nên tình cảnh khá khó khăn. Trong suốt sự nghiệp, tôi từng gặp nhiều chấn thương nặng, mọi người đều nghĩ sẽ khó qua khỏi, nhưng nhờ Tổ nghiệp, tôi vẫn khỏe mạnh đến giờ”, nghệ sĩ chia sẻ.

Theo NSƯT Phi Vũ, nghề nghiệp nào cũng có khó khăn, chẳng thể mang nghề của mình đi so với công việc của người khác để rồi thở than. Huống hồ gì, ông lại yêu nghề tha thiết, và nhiều người trẻ khác cũng đang cố gắng giữ lấy đam mê của mình. “Nghề này bạc, nói thế cũng đúng, bởi đồng tiền kiếm được so với công sức bỏ ra bị chênh nhau. Nhưng hỏi có bạc hoàn toàn hay không thì cũng chẳng phải, bạc hay không là do mình. Mình thiếu nghiêm túc, đối xử tệ với nghề thì nghề nghiệp cũng phản ngược trở lại. Còn nếu đam mê, chăm chỉ, cầu tiến thì đâu đó, vẫn sống được với nghề”, NSƯT Phi Vũ nói thêm.

Trong suốt bốn mươi mấy năm theo nghề, không phải không có lúc nản lòng, nhiều khi thấy vài người rời đi để làm công việc khác, NSƯT Phi Vũ cũng bị nao núng. Ông biết nếu hoàn cảnh không được khấm khá, ai cũng sẽ bị áp lực bởi tài chính, gia đình, và không vì mưu sinh, chắc nhiều người – trong đó có ông, đã không gắn bó với xiếc lâu như thế. Nhưng điều lớn hơn – chiếc neo giữ họ lại với nghề là tình yêu dành cho xiếc. NSƯT Phi Vũ nói tình yêu đó lớn đến nỗi, nếu không làm xiếc, có bày ra trăm thứ nghề, ông cũng chẳng biết mình có thể làm được gì khác nữa.

Xiếc cho NSƯT Phi Vũ được thỏa mãn với đam mê, có thêm học trò, cho ông cơ hội giao lưu với khán giả trong và ngoài nước. Xiếc còn mang đến cho ông một mái ấm đúng nghĩa với người vợ hiền và hai đứa con ưu tú. Chỉ điều đó thôi, đã quá đủ cho một đời người! “Phía nhà vợ tôi (diễn viên xiếc Ngọc Hương – PV), ba mẹ vợ là chủ gánh xiếc Độc Lập – gánh xiếc đầu tiên ở miền Nam, tiền thân của đoàn xiếc Tuổi Trẻ và là Nhà hát Nghệ thuật Phương Nam bây giờ. Tôi nên duyên với vợ sau một lần gặp tai nạn khi biểu diễn cho đoàn xiếc Độc Lập, và vợ khi đó phải chăm tôi. Chúng tôi biết và yêu nhau trong 10 năm trước khi lập gia đình”, NSƯT Phi Vũ kể lại.

Nếu một mai nghề xiếc không còn

Trong lúc gợi lại chuyện xưa, NSƯT Phi Vũ nhiều lần nhắc chuyện ngày nay – chuyện một thế hệ kế thừa không còn nhiều gương mặt trẻ tiềm năng, thậm chí, cả những ứng viên thực sự muốn theo nghề cũng chẳng thể tìm thấy. Bằng kinh nghiệm của người đi trước, cũng có con từng theo nghề xiếc nhưng về sau lại chọn con đường khác, NSƯT Phi Vũ vô cùng lo lắng và trăn trở. Bởi ông hiểu thời thế có nhiều tác động nhất định đến nghệ thuật xiếc, và nếu không nhanh chóng giữ gìn, chuyện đứt gãy thế hệ là hoàn toàn có thể xảy ra.

“Gia đình tôi đông người theo nghề xiếc. Ngoài bên vợ, phía nhà tôi, hai anh trai Phi Hùng, Phi Lâm cũng gắn bó với nghiệp xiếc. Các cháu bây giờ có nhiều đứa là đồng nghiệp và trong số các con của chúng tôi, cũng có cháu đam mê. Con trai tôi từng đi diễn từ năm 5 tuổi đến năm 12 tuổi thì dừng. Lúc đó, tôi có ý muốn cho con theo nghề, nhưng cháu quyết định chọn con đường riêng và tôi buộc phải tôn trọng”, NSƯT Phi Vũ nói.

Ông cho rằng độ tuổi tốt nhất để đào tạo lớp kế thừa nằm trong khoảng 10 – 14 tuổi, nhưng việc thuyết phục phụ huynh gửi con vào trường xiếc gặp rất nhiều trở ngại. Nếu ngày trước, mỗi lần thông báo tuyển sinh có cả ngàn người nộp hồ sơ, trường chỉ được chọn năm, bảy người để đào tạo, thì giờ đây, có ai chịu đăng ký đã mừng. Với tình hình hiện tại, trong vòng vài năm nữa, xiếc không thể phát triển thêm khi không có lớp kế thừa.

“Có những người trẻ đến với xiếc vì đam mê, nhưng cuối cùng phải rời đi vì nhu cầu mưu sinh. Họ sống không nổi với đồng lương trong thời điểm này, nên đành bỏ dở. Nghề này, vinh quang đi liền với gian nan, sự nhọc công. nếu cuộc sống cá nhân không được đảm bảo, cũng khó lòng giữ được chân người có đam mê, huống gì với những người trẻ khác”, NSƯT Phi Vũ tâm sự.

Thoảng trong ánh mắt, nụ cười hiền của NSƯT Phi Vũ thời điểm hiện tại, có thể thấy sự thong dong, yêu đời, nhưng cũng ở đó, hiện rõ những nỗi lo về lớp kế thừa. Ông bảo để xiếc trở về thời hoàng kim như những năm đầu thập niên 1980 là điều không thể. Chúng ta sẽ không bao giờ còn thấy lại được cảnh khán giả xếp hàng dài từ phía đường Ngô Quyền đến trước rạp Lệ Thanh (quận 5, TP.HCM) chờ xem xiếc như ngày xưa nữa. Xiếc ngày nay sống giữa hằng hà những loại hình giải trí khác, lại còn thêm ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nên cảnh đã buồn lại càng buồn thêm.

Dẫu vậy, chẳng ai có thể dập tắt hy vọng của một lão làng nghề xiếc, dù mong ước của ông sẽ phải cần thật nhiều thời gian. NSƯT Phi Vũ nói ông mong sớm có những chính sách phù hợp để chiêu mộ được người trẻ đến với ngành, khi ông còn khỏe, để còn truyền được ngọn lửa nghề đến nhiều thế hệ mai sau.

Nghệ sĩ Nhứt Dũng: “Nhạc lễ khó mà vượt đại dương lần nữa”

Ông nội không cho theo nhạc lễ

Lớn lên trong cái nôi nhạc lễ Cần Đước – Long An, ngay từ nhỏ, nhạc cụ đã trở thành người bạn tri kỷ của Nhứt Dũng. Mỗi lần có đám cúng đình, cúng miễu gần nhà, ông đều lặn lội đi coi cho bằng được. Lên bảy tuổi, ông đã biết đánh trống, gảy đàn.

“Nhà tôi có truyền thống nhạc lễ. Tuy nhiên, ông nội không muốn tôi theo cái nghề cực khổ này, cho đó là xướng ca vô loài. Nhưng cha tôi lại vô cùng khuyến khích. Chỉ đến khi ông nội mất, tôi mới có thể toàn tâm theo nhạc lễ. Ban ngày đến trường, ban đêm tới đám ma”, ông kể.

Thế nhưng, ít ai biết được, cố giáo sư Trần Văn Khê chính là người phát hiện và thuyết phục gia đình nghệ sĩ Nhứt Dũng cho ông theo đuổi con đường này. Cha của Nhứt Dũng, cố nghệ sĩ Phan Văn Nhứt, hay còn gọi nghệ sĩ Tám Nhứt, là người bạn tâm giao của cố giáo sư Trần Văn Khê. Một lần sang chơi cùng nghệ sĩ Tám Nhứt, thấy chú bé Nhứt Dũng chơi thạo trống cơm, giáo sư đã đặt hy vọng vào cậu bé này.

Đã có lúc, nhạc lễ Sóng Thần của gia đình Nhứt Dũng nổi danh khắp Sài Gòn. Nghe nhạc lễ Sóng Thần Gò Vấp là ai cũng ưng bụng. Còn với nghệ sĩ Nhứt Dũng, chỉ sau một tháng học kèn, ông đã kiếm được tiền từ công việc thổi kèn. Mà trong giới nhạc lễ, thổi được kèn thì phải biết chơi các nhạc cụ còn lại là gõ mõ, chũm chọe, trống và đàn cò. Mỗi nhạc cụ học ít nhất một năm. Vậy mà nghệ sĩ Nhứt Dũng chỉ mất chưa đến ba năm để thuần thục tất cả.

Dù được học nhiều thầy, nhưng với nghệ sĩ Nhứt Dũng, cha vẫn là người thầy đặc biệt nhất. Những tháng ngày tập tành cùng cha luôn khắc sâu trong tâm trí ông. Mỗi lần cha lên sân khấu, ông có nhiệm vụ lo liệu phần trống. Không biết nhanh hay chậm, hễ tiếng đàn sân khấu vang lên là mọi thứ đều phải vào vị trí. Lần nào chậm trễ, ông lại bị cha lấy dùi trống gõ vào hai mắt cá chân. Hay những lần đánh trống, tập đờn, vì liên tục đập, vỗ nên mấy ngón tay ông sưng tấy, rồi mưng mủ. Tuy đau, nhưng sau khi chữa hết, ông lại tiếp tục tập luyện cùng cha.

Dày công khổ luyện là thế, nhưng bây giờ, với nghệ sĩ Nhứt Dũng để có được cảm giác đớn đau sau những lần tập luyện như vậy thật khó! Cũng như bao bộ môn nghệ thuật truyền thống khác, nhạc lễ dần dần thoái trào. Chính nghệ sĩ Nhứt Dũng cũng đùa rằng, bây giờ, nếu muốn biết nhạc công ở đâu, làm gì, thì cứ đến đám ma. Ở đó, những bản nhạc da diết như ngân khúc tiễn đưa nhạc lễ. Còn trên sân khấu, nghệ sĩ không còn cần nhạc công nữa, phòng thu đã làm hết nhiệm vụ của nhạc công rồi.

Kỷ niệm trên sân khấu cùng giáo sư Trần Văn Khê

Kỷ niệm trên sân khấu cùng giáo sư Trần Văn Khê

“Đâu còn những người năm xưa hiểu thấu phong vị nhạc lễ. Nhạc công bây giờ nếu không còn đám ma thì cũng khó mà sống được. Mà đám ma ngày nay hiện đại, mấy nhạc cụ truyền thống xưa đâu còn ai mặn mà. Người ta chỉ thích nhạc mới, bày vẽ tùm lum. Thậm chí vài người chơi nhạc lễ còn không biết đàn cò, trống bồng là gì. Buồn hơn là đã qua rồi cái thời nghe thầy giỏi thì tìm đến mà học. Bây giờ, có đi năn nỉ cũng không ai học. Con mình thì không nối nghiệp mình, học trò thì chưa tìm được đứa nào ưng ý. Đó là trăn trở lớn nhất của tôi lúc này”, ông bộc bạch.

Nhạc lễ vượt đại dương

Ngoài dàn nhạc lễ của gia đình, tên tuổi Nhứt Dũng còn vụt sáng trên những sân khấu khác, mỗi màn trình diễn là một kỷ niệm đáng nhớ với ông.

“Tôi nhớ hoài buổi biểu diễn đầu tiên ở nước ngoài năm 1994 tại Pháp. Đó là vở Ông Jourdain ở Sài Gòn cùng với thầy Trần Minh Ngọc. Ngoài tôi là nhạc công cùng Văn Môn, Văn Hai, đoàn còn có Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Hồng Dung và Thành Lộc. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy sân khấu đông như vậy. Hay một điều là mọi người rất ý thức, đoạn nào vỗ tay là vỗ tay, hầu như không có nhiều tiếng động, tiếng ồn nào khác. Khi vở diễn kết thúc, không bao giờ chúng tôi chào một lần, người ta còn vỗ tay thì mình còn cúi chào đến khi nào khán giả dừng thì thôi”, ông kể.

Ông cũng nhớ chuyến lưu diễn cùng Ea Sola – một người con đất Việt sinh sống tại Pháp. Theo kế hoạch, đoàn sẽ lưu diễn tại 17 nước, kết hợp giữa múa đương đại và âm nhạc dân tộc. Tuy không đi hết hành trình, nhưng ông rất tự hào. Thanh âm Việt trong vở diễn vang vọng trên sân khấu quốc tế, không chỉ khẳng định bản sắc dân tộc, mà còn là niềm tự hào âm nhạc Việt Nam chẳng thua kém đất nước nào.

Thế nhưng, có lẽ màn trình diễn độc tấu trống trên sân khấu UNESCO tại Pháp là kỷ niệm chẳng bao giờ phai mờ của nghệ sĩ Nhứt Dũng. Đó là chuyến lưu diễn phục vụ bà con kiều bào tại Pháp. “Lúc đó, tôi được yêu cầu biểu diễn một tiết mục solo trống trong khi chờ nghệ sĩ vào thay đồ. Tôi nhanh trí dùng bài Lý ngựa ô để trình diễn, và chỉ được thực hiện trong vòng năm phút. Vậy mà khán giả quá hào hứng, khiến tiết mục của tôi kéo dài thành 10 phút, rồi 20 phút, đến nỗi Lệ Tứ bên trong cánh gà chỉ biết đứng chờ. Hội trường 2.000 người reo hò. Tiết mục ngẫu hứng đâu ai ngờ lại được xem là tiết mục đinh”, ông nhớ lại.

Nhắc lại những kỷ niệm lưu diễn, không chỉ ôn lại những câu chuyện sân khấu, mà còn rất nhiều câu chuyện khác nghệ sĩ Nhứt Dũng luôn ghi nhớ. Ông cho biết tại thời điểm đó, dù được kiều bào vô cùng mến mộ, nhưng ông nhất quyết không bao giờ nhắc đến hai chữ “cát-sê”. Được phục vụ cho đồng bào, mang âm nhạc truyền thống sang Âu châu mới là hạnh phúc vô bờ bến của ông.

Lần khác, năm 1994, cả đoàn lưu diễn đi siêu thị ở Pháp. Ông mặc nguyên bộ đồ màu đen và bị lọt vào tầm ngắm của cảnh sát vì tưởng nhầm ông là lực lượng khủng bố.

Cũng chính năm 1994, khi sang Pháp, ông gặp lại giáo sư Trần Văn Khê. Ban đầu, giáo sư không nhớ ông, nhưng sau khi giới thiệu là con của người bạn Tám Nhứt, cả hai mới ôm chầm lấy nhau. Cũng chính nhờ thầy Khê, mà ông mới có tiết mục độc tấu trống cơm đáng nhớ năm nào. Sau đó, mỗi lần về Việt Nam, thầy Khê đều gọi Nhứt Dũng sang chơi.

“Một năm trước khi thầy mất, thầy gọi tôi sang nhà. Tôi tưởng thầy muốn làm chương trình gì nên hăm hở chạy qua. Nào ngờ thầy dặn khi thầy mất, tôi phải đem dàn nhạc qua phục vụ tang lễ cho thầy. Tôi ghẹo thầy ít nhiều phải sống với tụi con chục năm nữa. Tôi còn hứa: thầy yên tâm, dù có chuyện gì đi nữa, con cũng sẽ phụng sự thầy. Sau này tôi mới biết, đó là hôm thầy lập di chúc, và có tên tôi trong đó”, ông kể.
Những kỷ niệm cùng nhạc lễ vượt đại dương luôn đau đáu trong tâm trí ông. Vẫn biết hào quang của sân khấu luôn thuộc về nghệ sĩ, nhưng với Nhứt Dũng, được cống hiến là mãn nguyện rồi.

“Đúng là khi nhìn lên sân khấu, người ta chỉ biết có nghệ sĩ biểu diễn. Còn phần mình, tôi chẳng bao giờ đố kỵ hay tủi thân, chỉ biết phải làm tốt, và được gọi đi diễn là mừng lắm rồi. Chỉ buồn khi nghĩ rằng, nhạc lễ khó mà vượt đại dương lần nữa, như thời của chúng tôi từng làm”, ông khẳng định.

Nguồn: phunuonline