Nghệ sĩ cải lương Linh Huệ: Một giọng ca tuyệt vời sớm bị lãng quên

0
1572

Với hơi ca khoẻ khoắn, giọng kim cao vút, nghệ thuật luyến láy trữ tình, nghệ sĩ Linh Huệ lại có nhan sắc dịu dàng, nước da trắng mịn, cô ca diễn các vai chánh đều thành công xuất sắc nên khán giả bốn phương rất ái mộ.

Giọng ca khoẻ khoắn và xinh đẹp

Trương Thị Thu Trinh là tên thật của nữ nghệ sĩ Linh Huệ, cô sinh năm 1959 ở Trảng Bàng, Tây Ninh. Song thân cô là ông Trương Văn Sở (59 tuổi) và bà Trịnh Thị Hai (55 tuổi) đều là nhà giáo từng dạy học ở trường Trảng Bàng, Tây Ninh. Bảy em của Linh Huệ, 3 trai, 4 gái hành nghề ngoài ngành sk. Ngày 27/12/1993, nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã làm lễ thành duyên cùng ông Võ Viết Triều, kỹ sư cơ giới ô tô.

Các ông trưởng đoàn hát nghe danh biết tiếng nên liên hệ để mời Linh Huệ về cộng tác với đoàn hát của mình với những điều kiện tài chánh hậu hỉ nhưng nữ nghệ sĩ Linh Huệ chọn đoàn hát Trúc Giang là một đoàn hát trung ban của thành phố để về cộng tác chỉ vì cô muốn theo học hỏi kỹ năng ca diễn của nữ nghệ sĩ Mỹ Châu,thần tượng của cô.

Cô bé với ước mơ nghệ thuật

Từ thuở bé Linh Huệ rất say mê ca hát nên cô quyết đi theo con đường này. Cha mẹ cô đã gởi cô đi theo học lớp tân nhạc với nhạc sĩ Bảo Thu (1973). Sau đó Bảo Thu thường dắt cô đi ca ở các sô và thu tivi. Linh Huệ đã biểu diễn thành công những bài như: Làng tôi, Em bé quê, Ly rượu mừng… Bảo Thu đã từng nói với Linh Huệ “em có giọng ca ténor, hơi tốt, thông minh. Nếu em ráng theo ca nhạc, chắc chắn sẽ thành danh”. Nhưng rồi sau đó Linh Huệ không có dịp theo ca nhạc nữa mà phải về quê tiếp tục học hành. Năm 1976, cô học hết lớp 12 và rồi thi rớt tú tài nên phải nghỉ học với 1 nỗi buồn. May đâu dượng rể của Linh Huệ là ông Ba Đa, trưởng đoàn Văn công tây ninh trong dịp đến thăm gia đình cô, thấy Linh Huệ có giọng ca tốt nên đã khuyên cô nên theo đoàn Văn công TN.

Thế là Linh Huệ học thạo ca tân để rồi đi theo đoàn cải lương. Cô sử dụng cái vốn tân nhạc của mình để ca tài tử suốt 2 năm liền. Để hội nhập với đoàn VCTN, Linh Huệ phải học cổ nhạc. Vì thế cô đã nhờ nhạc sĩ Tám Khích dạy cô ca rành tất cả bài bản ứng dụng cho cải lương. Năm 1978, Linh Huệ được cho hát các vai: Kim Anh (Đời cô lựu), Quận chúa (Chim việt cành nam), Hồ Bảo Xuyên (Đêm lạnh chùa hoang)….cùng với những diễn viên: Lê Phát, Phượng Nhung, Ánh Hồng….Một năm sau (1979), nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã tròn 20 tuổi, cô đã ca hát tương đối vững vàng trên SK đoàn VCTN, chẳng những khán giả biết tiếng cô mà các đoàn hát bạn cũng bắt đầu chú ý đến cô đào tên Linh Huệ, còn trẻ có hơi ca dài, khỏe. Vì thế đoàn Sông bé 1 đã bí mật cử người đến thương lượng mời cô về hát. Linh Huệ bằng lòng và rất vui mừng vì được người trong giới biết đên. Cô về Sông bé 1 hát với Bảo Vương, Văn Sa, Phước Trọng,

Thuý Nga… và nổi danh qua các vai Thuý Kiều (vở Thuý kiều), Kiều Nguyệt Nga (vở Lục vân tiên), và Bùi Thị Xuân (vở Bảy mùa mai nở).

Tuy đã có vị trí tốt ở các đoàn tỉnh, nhưng Linh Huệ cảm thấy cần phải bồi đắp thêm cho nghề nghiệp, mà con đường tốt nhứt là phải về TP Hồ chí minh để học hỏi thêm.

Về Thành Phố rồi thành danh

Năm 1980, khuôn mặt nữ nghệ sĩ mới xuất hiện ở 1 đoàn hát cải lương khiêm nhượng ở thành phố. Đó là Linh Huệ ở đoàn Trúc Giang (Tần Nguyên trưởng đoàn). Cô có dịp hát với những nghệ sĩ ca diễn vững vàng như Tuấn Thanh, Minh Minh Vương, Phương Loan….qua vai Giao (Vòng cưới anh trao), Thoại Khanh (Thoại khanh châu tuấn), Nguyệt Nga (Lục vân tiên). Với 1 đoàn như Trúc Giang, tiết mục biểu diễn hạn chế nên Linh Huệ không có dịp học hỏi, trui rèn qua các vai trò mới, nhất là trong các vở xã hội mà cô có ý muốn học hỏi.

Vì thế 1 năm sau đó, Linh Huệ đã chấp thuận về hát ở SK Sài gòn 3 khi được mời. Quả nhiên Linh Huệ được khẳng định vị trí ở 1 đoàn hát tương đối lớn qua những vai tuồng xã hội Việt nam như Hoàng (Phụng và hoàng), Trà Mi (Hương sắc trà mi), Lan (Hoa phong lan). Ngoài ra Linh Huệ cũng diễn rất sắc nét qua các vai khác như: Sarết (Nàng Sarết), Sao Ly (Tình ca biên giới), Thị Lộ (Hạt bụi và non cao)… và trong giới cũng bắt đầu chú ý Linh Huệ, một khuôn mặt mới có giọng ca dài hơi và ngọt ngào.

Cùng với ê kíp diễn viên trẻ có thực tài và một số diễn viên kinh nghiệm của đoàn Sài gòn 3 như Bảo Linh, Tuấn Thanh, Chí Hải, Vương Ngọc, Dương Thanh, Lan Chi, Văn Chung, Kim Quang, Bảo Chung, nữ nghệ sĩ Linh Huệ chói sáng giữa số đông diễn viên hùng hậu của đoàn Sài gòn 3 lúc bây giờ. Nếu tính từ lúc bắt đầu đứng SK hát cải lương (1978) thì chỉ có 3 năm sau Linh Huệ đã chiếm được vị trí tốt ở đoàn hát, ở TP. Còn nếu tính từ ngày về TP thì chỉ có 1 năm cô đã ở vào vị trí mà diễn viên khác hằng mơ ước.

Đó là cả sự may mắn của cuộc đời đi hát của Linh Huệ để rồi 6 năm sau (1987) cô lại được đoàn Sài gòn 1 mời về hát để cô có dịp trui rèn thêm nghề qua những vở hát khác và thay Thanh Kim Huệ trong nhiều vai (lúc ấy Thanh Điền – Thanh Kim Huệ về đoàn Sài gòn 3) như: Thị Hến (Ngao Sò Ốc Hến), chị ba (Lọ nước thần), An Tư (Công chúa An Tư), Cô gái (Cô gái hát rong), Hoàng Hậu (Vua hóa Hổ), Tiêu (Tiếng hát người yêu),…

Năm 1989, Linh Huệ về đoàn Văn công TP trong 6 tháng hát qua những vở như: Tiếng sáo đêm trăng, Khúc hát đoạn tình, Nợ tình,.… và rồi cô đi đoàn Sông bé 2, 6 tháng cùng hát với nam diễn viên Châu Thanh. Năm 1990 Linh Huệ lại trở về đoàn Sài gòn 3 diễn thành công thêm 2 vở mới loại xã hội là: Con thuyền không bến (vai Nga), Lâu đài trên cát (vai Hiếu).

Trong năm 1991, Linh Huệ lại có dịp cộng tác thêm hai đoàn cải lương của thành phố nữa là đoàn 2-84 hát qua các vở: Gọi tên tình yêu, Chuyện tình hai thế hệ, Tiếng chuông thiên mụ, và đoàn Trần Hữu Trang 1 qua các vở: Lan huệ sầu ai, Bóng hồng sa mạc, Võ tòng sát tẩu.

Sau 11 năm hát ở TP, Linh Huệ đã hát qua 6 đoàn hát cải lương: Trúc giang, Sài gòn 3, Sài gòn 1, Văn công TP, 2-84, Trần hữu trang 1 qua gần 40 vai khác nhau của đủ loại tuồng đã hình thành độ dài kinh nghiệm của 1 diễn viên SK cải lương. Nhưng người ta thấy nữ nghệ sĩ Linh Huệ….

Vẫn Mãi tìm một con đường

Từ tháng 10 năm 1992, nữ nghệ sĩ Linh Huệ đột nhiên về cộng tác với đoàn cải lương Tây đô (Cần Thơ). Sự có mặt của Linh Huệ đã củng cố vững chắc đoàn Tây đô lúc bấy giờ với thành phần nghệ sĩ trẻ: Vương Thái, Vương Vũ, Vương Kiệt, Thanh tâm, Kiều Mỹ Dung, Ngân Thủy….

Trong 2 năm đoàn Tây đô đã khá vững mạnh trên đường lưu diễn ở các tỉnh miền tây, và danh tiếng của Linh Huệ cũng nổi lên ở miền tây. Trước đây cô đã từng hát ở các tỉnh miền đông rồi về thành phố, rồi lại đi hát ở miền tây, có phải Linh Huệ đi tìm khán giả ái mộ ở một vùng khác? Nếu vậy, Linh Huệ còn được một số khán giả ở vùng khác (miền bắc) ái mộ khi cô cùng với đoàn Tây đô đi ra Hà nội biểu diễn phục vụ quốc hội khóa 9 (1993) và được bằng khen. Dư luận khán giả và báo chí ở miền bắc đã tỏ ra có cảm tình với nữ diễn viên Linh Huệ của đoàn Tây đô.

Dù đi lưu diễn xa, giọng ca của Linh Huệ vẫn được các hãng băng ở thành phố chú ý nên cô thường xuyên được mời về thu băng. Cô đã thu trên 100 băng Audio và mấy mươi vở Video. Khán thính giả quốc nội, quốc ngoại hẳn đã biết qua những băng Audio: Nguyệt Hổ Vương, Cổ xe độc mã, Ma Nữ Truy Hồn, Phấn hương đoạt nhãn, Lệnh tử thần, Lưu Kim Đính, Tuyết kha, Lệnh truy nã, Hoa chùm gởi, Hàn tín Lã hậu, Ai cho tôi tình yêu,Tthanh xà Bạch xà, Sông dài, Yêu người điên, Gánh cỏ sông hàn, Hàn Mạc Tử,Ttrương chi Mỵ nương, Ngàn năm vẫn đợi, Đào hoa khách, Ba giai tú xuất, Công chúa cá vàng,Nữ Độc Thủ Cô Đơn, Độc Thủ Đại Hiệp, Khi Mặt Trời Tắt Nắng,Lỡ Bản Tình ca, Đứa con rơi, Vị Đắng 1 Cuộc Tình, Sương Mù Che Lối Em, Phận gái thuyền quyên, Vụ Án Đêm Noel, Bạn rừng năm cũ, … băng video có: San hậu, Hồn trương ba da hàng thịt, Chung vô diệm, Con cò trắng, Thach sanh Lý thông, Đời cô Hạnh, Con thuyền không bến, Má hồng soi kiếm bạc, Quân Vương và Thiếp, Trễ Đò….

Con đường đi tìm khán giả của Linh Huệ, nếu có, thì có lẽ cô đã được phần nào mãn nguyện với số lượng khán giả đáng kể ở thành phố, miền bắc, và các tỉnh miền trung, miền đông, miền tây, kể cả những khán thính giả ở quốc ngoại. Tuy nhiên dường như đó chẳng phải là con đường mà Linh Huệ đang tìm. Đi lưu diễn xa, bao giờ Linh Huệ cũng theo dõi các hoạt động cải lương ở thành phố với một nỗi niềm riêng. Có phải cô đang bận tâm về một con đường nào đó làm cô khổ tâm trong những năm qua? Linh Huệ đã 5 lần được độc giả Báo SKTP bầu chọn: Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất (1990), Diễn viên được yêu thích nhất năm 1990, Diễn viên dự giải THT được yêu thích nhất qua 3 năm liền: 1991, 1992, 1993. Nhưng chiếc Huy chương vàng của giải THT hai năm đầu đã xa tầm tay của cô là sự đớn đau lớn. Dù vậy mỗi lần được giải, trong các buổi lễ phát giải của Báo SKTP, dù cô đang hát ở tận phương nào cũng về thành phố lãnh giải, tham gia tiết mục biểu diễn và bao giờ cô cũng là người đầu tiên có mặt trong buổi lễ với hóa trang và trang phục biểu diễn sẵn sàng.

Kể từ ngày mới bắt đầu học ca cổ nhạc nơi đoàn hát Tây Ninh của ông Bầu Ba Đa cuối năm 1976 đến năm 1981, chỉ mới 5 năm năm mà nữ nghệ sĩ Linh Huệ, một cô gái mới học cổ nhạc đã đạt được vị trí diễn viên đào chánh của một đại ban cải lương trong thành phố, điều đó chứng tỏ Linh Huệ có một sự cố gắng phi thường và có một giọng ca trong trẻo, một lối ca điêu luyện hiếm có.

Đây cũng là nhờ ở một sự may mắn, vì nhu cầu của đoàn hát, vì cần thay thế một diễn viên chánh, một giọng hát ăn khách vừa rời đoàn hát mà Linh Huệ được mời về để thế vai. Lối diễn, giọng ca và nhan sắc của Linh Huệ giúp cho cô đóng thế vai các diễn viên thượng thặng một cách dễ dàng và thành công trọn vẹn.

Khu rừng không biên giới

Được tin mình đoạt Huy chương vàng giải THT năm 1993, nữ nghệ sĩ Linh Huệ không giấu được nỗi vui mừng và sự xúc động. Sau 15 năm đứng hát ở sân khấu, khổ cực và vinh quang cô đã trải qua nhiều rồi. Linh Huệ thành thật cho biết rằng, trong đời cô không vinh quang nào bằng vinh quang đoạt giải THT khẳng định một bậc thang nghề nghiệp, và cũng không có sự khổ cực nào bằng sự khổ cực đợi chờ được bước lên nấc thang nghề nghiệp đó.

Sau một thời gian dài trên bước đi hành nghề ở sân khấu, nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã tạo dựng sự nghiệp cho riêng mình bằng mồ hôi và nước mắt, bằng chính sự phấn đấu nghệ thuật không ngơi nghỉ. Khi đã tạo dựng sự nghiệp sân khấu bằng dấu ấn trong lòng khán giả và người trong giới rồi, đó phải chăng là tìm đúng và có được con đường trong bước đi nghệ thuật trong tương lai hay không? Linh Huệ đã cho biết rằng nếu nói “Con đường tự tìm đường đi, đi riết thành ra con đường” thì cô đã làm chuyện đó trong nhiều năm qua rồi, trải qua nhiều con đường hẹp, rộng, ngắn, dài, khó đi hoặc dễ đi và chiếc Huy chương vàng giải THT đối với cô quả là con đường mới mà cô được ban tặng, thênh thang và dễ dàng tiến bước nghệ thuật.

Nhưng cô lại tự nghĩ, con đường nào – khó đi hay dễ đi – đối với 1 nghệ sĩ cũng đều là những con đường trong khu rừng nghệ thuật không bao giờ có lối ra, không bao giờ có biên giới. Vừa thoát khỏi khu rừng này đã có khu rừng khác lớn hơn mà kẻ lữ hành là người nghệ sĩ luôn luôn phải đột phá tiến lên chớ không phải ngồi yên trên đoạn đường trải thảm. Ta khóc hay cười, buồn vui, vinh quang hay thảm bại, hạnh phúc hay đau khổ, giàu sang hay nghèo khó cũng chỉ có ta và khu rừng nghệ thuật mà ta phải sống với nó với những hoàn cảnh khác nhau và sự phấn đấu của bản thân ta chớ không có cách khác. Còn nếu như ta ngồi yên, thì quả tình đây cũng là một con đường mới: Con đường rút lui khỏi vườn hoa nghệ thuật…

Nữ nghệ sĩ Linh Huệ và danh ca Thanh Kim Huệ

Nghệ sĩ Linh Huệ, một giọng ca có âm sắc trong trẻo, vút cao, hơi giọng với giọng ca của danh ca Thanh Kim Huệ. Về sắc vóc, Linh Huệ cũng có phần giống Thanh Kim Huệ, tựa như chị em song sinh.

Trong 12 năm theo nghề hát, Linh Huệ đã thay đổi qua 9 đoàn hát : Tây Ninh, Sông Bé 1, Trúc Giang, Saigon 3, Saigon 1, Văn Công, 2/84, Trần Hữu Trang 1, Tây Đô, đã hát qua hơn 40 vai trò khác nhau của đủ các loại tuồng, thay đổi quá nhiều đoàn hát, Cô thấy thuận lợi hay bất lợi cho nghề hát của cô?

Theo Linh Huệ  chia sẽ thì thay đổi sân khấu là tìm con đường đi lên để phát triển nghề nghiệp, vì đến một đoàn mới mình phải cố gắng nhiều hơn, đồng thời được học hỏi thêm nhờ diễn chung với những bạn diễn mới. Khi đoàn mới cần mình thế vai chánh đã ra đi, mình hát thành công, giữ được khán giả cho đoàn, điều đó chứng tỏ mình có tiến bộ về nghệ thuật.

Năm 1990, được bình chọn là danh ca vọng cổ được ưa thích nhất trong năm.

Năm 1993, cô được tặng thưởng huy chương vàng giải Trần Hữu Trang. Cũng trong năm nầy cô Linh Huệ kết hôn với anh Võ Viết Triều, kỷ sư cơ khí ô tô.

Sau một thời gian dài, cô Linh Huệ đã tạo dựng sự nghiệp sân khấu của mình bằng mồ hôi và nước mắt, với một sự phấn đấu kiên cường không biết mệt mõi để đạt được những vinh quang nghề nghiệp. Nhưng rồi tình hình sân khấu cải lương xuống dốc, mất dần khán giả đến độ quá nhiều đoàn hát phải tan rã, không còn rạp hát để hát. Nghệ sĩ cải lương phải chuyển qua tấu hài và hát trích đoạn cải lương,

Sau khi đoạt HCV Trần Hữu trang năm 1993, cô đã theo chồng xa rời Sân khấu. Khán giả yêu thích cô luôn giữ mãi những hình ảnh đẹp về cô, những vai diễn, những bài hát như lưu giữ những kỉ niệm đẹp về một miền kí ức. Nghĩ về cô, khán giả chỉ mong là được xem cô diễn trên sân khấu, nhưng điều mong muốn đó biết có được không hay sẽ mãi là mơ ước.

Bởi vì chúng tôi được tin nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã đi định cư tại Toronto Canada. Tiếc rằng tôi chỉ biết tin Linh Huệ qua một nghệ sĩ cải lương ở Toronto mà chưa có gặp trực tiếp Linh Huệ để hiểu rõ cuộc sống gia đình và cuộc đời hoạt động nghệ thuật của Linh Huệ hiện nay ra sao.

Tuy nhiên một điều thật tế cho thấy giọng ca vọng cổ tuyệt vời của nữ nghệ sĩ Linh Huệ bị mai một, bị lảng quên dần vì ở Canada không có môi trường thuận tiện cho nghệ thuật hát cải lương.

Gia tộc 4 đời nặng nợ với cải lương

Trong những hãng đĩa hát nổi tiếng tại Sài Gòn trước năm 1975, có một hãng luôn được giới nghệ sỹ nhắc tới như là một “bà đỡ mát tay” cho nghệ thuật Việt: Đó là hãng đĩa Lê Văn Tài và sau này là hãng đĩa Việt Nam. Nhạc sỹ Phạm Duy đã từng viết trong hồi ký rằng năm 1951, hãng đĩa này đã trả thù lao rất cao cho nghệ sỹ và vì thế, hãng đĩa này đã hút khá nhiều nhân tài âm nhạc tìm đến.

Nhưng hãng đĩa của gia tộc ông Lê Văn Tài không chỉ nâng đỡ, phát triển tân nhạc Việt mà còn góp phần rất lớn để phát triển và gìn giữ bộ môn nghệ thuật cải lương. Theo tư liệu của nhà nghiên cứu Phạm Công Luận, ông Lê Văn Tài sinh năm 1895 tại Sa Đéc, được cha đã truyền cho nghề kim hoàn nhưng ông không thích mà lại hướng sự đam mê với công việc buôn bán radio. Năm 1927 cùng với vợ là bà Ngô Thị Mão, ông Tài mở tiệm kinh doanh máy hát, đĩa hát. Nhờ biết nắm bắt thị trường và có người vợ khéo léo quảng giao nên rất hút khách, tiệm của ông làm ăn khá phát đạt. Tới năm 1944 khi bà Ngô Thị Mão mất, ông Lê Văn Tài vì thương nhớ vợ, biết vợ từng mê cải lương nên đã chuyển từ nghề kinh doanh đĩa và máy hát sang lĩnh vực sản xuất đĩa hát. Vì thế năm 1947, hãng đĩa Lê Văn Tài chính thức được thành lập.

Ông Lê Văn Tài có 6 người con đều tham gia nhiều công đoạn của hãng đĩa, trong đó người con gái thứ 5 là Lê Ngọc Liên (Còn gọi là Sáu Liên) sinh năm 1932 tỏ ra nhạy bén trong việc nắm bắt nhu cầu của thị trường nghệ thuật để định hướng kinh doanh. Từ hãng đĩa Lê Văn Tài, nhiều nghệ sỹ đã lựa chọn để lưu giữ giọng ca vàng của mình như nghệ sỹ Tám Thưa, Minh Chí, Năm Phỉ, Phùng Há… hay tiếng đờn, vở diễn của Viễn Châu….

Năm 1968, sau khi cha mất bà Sáu Liên tiếp tục theo con đường cha đã chọn. Theo đánh giá của giới nghệ sỹ ngày đó, tuy Sài Gòn có nhiều hãng đĩa, thậm chí có những hãng đã có thâm niên trong việc kinh doanh băng đĩa nhưng hãng đĩa Việt Nam vẫn luôn được các nghệ sỹ đánh giá cao hơn bởi sự tài năng và tính chuyên nghiệp. Dù không phải nghệ sỹ nhưng bà Sáu Liên có con mắt tinh tường để nhận ra giọng ca nào sẽ nổi trong tương lai, nhận ra giọng ca nào phù hợp với vai diễn nào. Thậm chí bà còn đặt các soạn giả viết tuồng theo kiểu “Đo ni đóng giày” cho từng giọng ca. Vì thế các nghệ sĩ nổi tiếng ngày đó như: Út Trà Ôn, Tấn Tài, Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Thanh Sang, Phượng Liên, Thành Được, Bạch Tuyết, Diệu Hiền…  đều lần lượt đầu quân về hãng đĩa Việt Nam để trở thành nghệ sĩ độc quyền của bà Sáu Liên. Đặc biệt 2 giọng ca trẻ là Chí Tâm, Thanh Kim Huệ… cũng nhờ hãng đĩa Việt Nam lăng xê thông qua vở cải lương kinh điển Lan và Điệp để trở thành những giọng ca hàng đầu của cải lương Việt.

Gia tộc 4 đời nặng nợ với cải lương ảnh 1 Hãng đĩa Việt Nam trước 1975

Không chỉ thu âm các vở cải lương, bà Sáu Liên còn là người đầu tiên mở in các tập tuồng, các bài ca cổ lên giấy. Những cuốn sách in lời cải lương thường mỏng và bán giá rất rẻ…. Theo ý bà, băng đĩa chỉ có giới trung lưu trở lên mới mua được, còn người nghèo thì chỉ được nghe cải lương qua radio. Nhưng chỉ cần bỏ ra số tiền nho nhỏ, người nghèo cũng có thể mua  thêm một tập lời cải lương để có thể đàn hát, luyện ca. Sách in lời cải lương của hãng đĩa Việt Nam bán rất chạy, tiếp thêm sức để rất nhiều người có thể tiếp cận, thêm yêu cải lương.

Sau ngày đất nước thống nhất, bà Sáu Liên vẫn quyết giữ lửa nghề. Bà đã liên kết với một số đơn vị nhà nước để phát lại những giọng ca, vở diễn cải lương trong bộ sưu tập băng đĩa mấy chục năm của hãng. Các giọng ca hàng đầu của cải lương một thời được khán giả sau này biết đến cũng nhờ công sức của bà. nhiều vở diễn hay như Lan và Điệp, Người tình trên chiến trận, Đêm lạnh chùa hoang, Mùa thu trên Bạch Mã Sơn, Tâm sự loài chim biển… cũng được in và phát hành trở lại. Bên cạnh đó, bà Sáu Liên còn tiếp tục lăng xê các giọng ca mới như Châu Thanh, Phượng Hằng, Cẩm Tiên…

Hiện nay do nghề thu âm phát hành băng đĩa nhạc không còn phát triển, hãng đĩa của bà Sáu Liên cũng không còn nhiều hoạt động. Căn nhà 82 Hồ Tùng Mậu- Nơi đặt trụ sở hãng đĩa một thời giờ đã cho thuê. Bà Sáu Liên giờ đã cao tuổi, mọi công việc điều hành bà giao cho con gái là Nguyễn Ngọc Loan. Chị Loan cho biết hiện gia đình chị còn lưu trữ khá đầy đủ các băng đĩa được thu âm từ trước đây. Trong đó có những bản ghi của các nhạc sỹ như Văn Vĩ, Năm Cơ, Chín Trích, Hai Thơm, Sáu Tửng, Tư Huyện… thể hiện hay các vở tuồng của các soạn giả như Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền, Năm Châu, Viễn Châu, Mộc Linh, Điêu Huyền, Thu An, Nhị Kiều, Nguyễn Phương, Yên Lang… cùng những giọng ca vàng qua các thời kỳ. Chị Loan nói: “Hiện nay chúng tôi đã số hoá tất cả các bản thu ngày xưa và cũng đưa lên Internet một phần để dành cho những người yêu nghệ thuật cải lương. Má tôi luôn dặn các con phải trân quý cơ nghiệp của gia đình, phải lưu trữ lại những di sản để đời sau, để thế hệ trẻ biết nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và sân khấu cải lương một thời hưng thịnh”.

Chị Loan còn cho biết con gái chị là Bảo Châu cũng rất đam mê với cải lương. Tuy còn rất trẻ nhưng Bảo Châu đã thuộc rất nhiều tích tuồng. Cháu rất tự hào về những gì mà gia tộc đã làm và muốn mai này sẽ là thế hệ bước tiếp con đường của gia tộc, gìn giữ di sản cải lương mà các thế hệ đi trước đã tạo nên”.

Nguồn: Tổng hợp