Ai được mệnh danh là giọng hát liêu trai của sân khấu cải lương?

0
184

Người nghe không thể nhầm lẫn giọng ca của cô với bất cứ nữ nghệ sĩ nào khác, cũng khó có nghệ sĩ nào có thể bắt chước được kỹ thuật luyến láy giống như cô.

Là một ngôi sao ở “thế hệ vàng” của nghệ thuật cải lương cùng thời với các nghệ sĩ: Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh…, NSƯT Mỹ Châu nổi tiếng nhờ phong cách diễn trầm tĩnh, sâu sắc và giọng ca trầm buồn, “đặc biệt” với sở trường ca dây kép. Tên của nữ nghệ sĩ tài danh này đã được dùng để đặt tên cho một thang âm cổ nhạc gọi là “dây Mỹ Châu”.

Nguyễn Thị Mỹ Châu sinh năm 1950, tại huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Gia đình có 4 anh chị em, Mỹ Châu là con út. Lúc đầu, Mỹ Châu mê tân nhạc, từng đoạt giải nhất trong một cuộc thi ca nhạc thiếu nhi khi vừa lên 7 tuổi. Nhưng cô cũng học ca vọng cổ từ một người bạn của anh trai. Học nhưng không say mê. Cô chỉ mơ trở thành bác sĩ trị bệnh cứu người.

Bất ngờ, ông bầu Cang của gánh hát Tiếng Chuông tìm đến nhà và ngỏ lời xin má cô cho cô đi theo đoàn hát, vì ông phát hiện tiềm chất của cô trong một lần nghe cô ca vọng cổ tại trường. Má cô thích lắm, xin phép cho cô nghỉ học theo đoàn. Bà vốn là một người rất hâm mộ cải lương. Cô chiều lòng mẹ. Hai má con đã khăn gói theo đoàn Tiếng Chuông vào năm 1961, khi cô mới 11 tuổi.

Cũng như các con em của nghệ sĩ khác, hằng đêm, Mỹ Châu ngồi bên cánh gà xem hát, tự học lỏm những vai diễn. Thấy Mỹ Châu có chất giọng tốt, các thầy đờn trong đoàn dạy cô ca vọng cổ và nhiều bài bản cổ nhạc khác. Ít lâu sau, ông bầu Cang cho Mỹ Châu ca salon ngoài màn trước khi đoàn diễn tuồng chính thức. Vai diễn đầu tiên là vai đào con Sao Ly trong vở “Giai nhân bên suối mộng”.

Được đứng hát chung với các nghệ sĩ ở các đoàn đại bang tầm cỡ như Thành Được, Út Bạch Lan, Minh Chí, Kim Nên, hề Minh… là điều mơ ước của các nghệ sĩ ở các đoàn cải lương trung bang như đoàn Tiếng Chuông. Những ngày nghỉ xả hơi, Mỹ Châu cùng mẹ và nghệ sĩ Phi Hùng thường đến rạp Minh Hiển ở Long Xuyên xem thần tượng Út Bạch Lan biểu diễn.

Nghệ sĩ Phi Hùng giới thiệu Mỹ Châu cho Út Bạch Lan. Cô Bảy Kim Chưởng, bà bầu của đoàn hát đại bang Kim Chưởng cũng được thông tin về Mỹ Châu đã đề nghị cô cộng tác với hợp đồng khởi điểm 5.000 đồng (1 đôla Mỹ chưa đến 9 đồng). Nỗi mừng nhỏ chưa kịp loãng, niềm vui lớn đã bất ngờ ập đến. Ngay đêm gặp gỡ ấy, sầu nữ Út Bạch Lan đã mời Mỹ Châu với giao kèo cao hơn.

Vậy là năm 12 tuổi, Mỹ Châu chính thức về đầu quân cho đoàn Út Bạch Lan – Thành Được, học ca và ngâm thơ hậu trường. Mỹ Châu tiến bộ rất nhanh. Cuối năm 1962, khi vở “Khi rừng mới sang thu” của cố soạn giả Quy Sắc được đoàn dàn dựng, Mỹ Châu được phân thủ vai Ấu Quân. Nhờ sự giới thiệu của danh cầm Hai Long, cô về cộng tác với ban cổ nhạc Thành Công, ca bài vọng cổ “Bá Nha – Tử Kỳ”, phát trên Đài phát thanh Sài Gòn, được công chúng khắp nơi ái mộ.

Nổi tiếng trên làn sóng phát thanh, giọng ca ngày càng mượt mà, sâu lắng, Mỹ Châu là đích ngắm của nhiều đoàn. Năm 1965, sau thành công vai nữ chính Thùy Dương trong vở “Hai lần thu hẹn” ở sân khấu Thủ Đô, Mỹ Châu được ông bầu Long mời về sân khấu đại bang Kim Chung, tiếp tục chinh phục khán giả qua các vở tuồng: “Trinh nữ lầu xanh”, “Gió giao mùa”, “Kiếm sĩ dơi”…

Sở hữu giọng ca hay, lại được danh ca Minh Cảnh và Diệu Hiền rèn luyện thêm kỹ thuật ca – diễn; chẳng bao lâu, tên tuổi của NSƯT Mỹ Châu càng vụt sáng. Năm 17 tuổi, Mỹ Châu đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm, một giải thưởng đỉnh cao của sân khấu cải lương Nam Bộ. 26 năm sau (1993), Mỹ Châu được phong tặng danh hiệu “Nghệ sĩ ưu tú”. Rồi đến năm 1999, chiếc Huy chương vì sự nghiệp sân khấu Việt Nam dành cho những cống hiến, sự am tường thấu hiểu và hết lòng tận tụy với nghiệp ca cầm của nghệ sĩ tài danh Mỹ Châu.

Tỏa sáng nhờ giọng ca

Hơn 50 năm gắn bó với nghệ thuật cải lương, NSƯT Mỹ Châu nổi tiếng qua nhiều vai diễn trên sân khấu trong các vở tuồng như: “Sở Vân cứu giá”, “Kiếp nào có yêu nhau”, “Kiếp sĩ dơi”, “Gió giao mùa”, “Bình rượu nhiệm mầu”, “Tiêu Anh Phụng”, “Khi rừng mới sang thu”, “Lan huệ sầu ai”, “Khách sạn hào hoa”, “Tâm sự Ngọc Hân”, “Hoa Mộc Lan”, “Muôn dặm vì chồng”, “Nàng Hai Bến Nghé”, “Thái hậu Dương Vân Nga”, “Bên cầu dệt lụa”, “Tiếng trống Mê Linh”, “Vòng cưới anh trao”, “Hai phương trời thương nhớ”, “Hoa độc trong vườn”, “Dòng sông đầm lầy”,…

Thành công rực sáng nhất của NSƯT Mỹ Châu trong đời làm nghệ thuật chính là giọng ca, sở trường là ca dây kép. Đặc biệt, cô có thể ca những chữ vần trắc thật hay. Cô đã từng nói: “càng trắc thì Mỹ Châu càng thích”.

Thập niên 70 của thế kỷ trước, Mỹ Châu được đánh giá là một cô đào trẻ đẹp, sáng giá và cũng “đắt giá” nhất trên sân khấu cải lương lúc bấy giờ. Với chất giọng trầm buồn sâu lắng, làn hơi “thổ pha kim” quý hiếm, cộng với nét đẹp kiêu sa, sang trọng, Mỹ Châu được ký giả kịch trường và công chúng tặng cho danh hiệu “Lolita Mỹ Châu”.

Người nghe không thể nhầm lẫn giọng ca của cô với bất cứ nữ nghệ sĩ nào khác, cũng khó có nghệ sĩ nào có thể bắt chước được kỹ thuật luyến láy giống như cô. Báo giới và công chúng còn tặng cho cô nhiều biệt danh khác như: “Giọng hát liêu trai”, “Nữ hoàng kiếm hiệp”, “Nữ hoàng tân cổ giao duyên” và được vinh dự gắn với một thang âm cổ nhạc mang tên “dây Mỹ Châu”, do danh cầm Hoàng Thành sáng chế vào khoảng năm 1977 – 1978.

Một thời gian dài, giọng ca trầm buồn của NSƯT Mỹ Châu được nhiều hãng đĩa lớn ở Sài Gòn – Chợ Lớn khai thác triệt để. Khởi đầu từ bài ca “Nửa đêm sầu hận”, rồi đến bài tân cổ “Hòn vọng phu”, đều do cố soạn giả – NSND Viễn Châu biên soạn lời vọng cổ.  Hàng trăm bài vọng cổ và tân cổ giao duyên sau này, NSƯT Mỹ Châu đều khiến giới mộ điệu say đắm.

NSƯT Mỹ Châu từng hát sánh đôi với nhiều nam nghệ sĩ tài danh như: Minh Cảnh, Tấn Tài, Minh Phụng, Thanh Tuấn, Minh Vương, Phương Bình, Đức Minh, Tuấn Thanh, Vũ Linh…, nhưng có lẽ, giới mộ điệu vẫn ấn tượng và nhớ nhiều nhất với liên danh Minh Phụng – Mỹ Châu. Cả hai gặp nhau lần đầu tiên trên sân khấu Kim Chung 2 vào năm 1966 trong vở cải lương “Bình rượu nhiệm mầu”. Họ rất xứng đôi, từ vóc dáng sân khấu, cho đến giọng ca và khả năng diễn xuất.

Nhờ cách ca ngâm, nét diễn xuất đầy quyến rũ, NSƯT Mỹ Châu đã gây sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo cho NSƯT Minh Phụng dễ nhập tâm vào nhân vật khi cả hai cùng đứng chung trên sân khấu. Sinh thời, NSƯT Minh Phụng đã chân thành thổ lộ: “Tôi có được thành công trên sân khấu cải lương là nhờ công lao của Mỹ Châu rất nhiều. Nếu không có Mỹ Châu, thì không có tên Minh Phụng như ngày hôm nay”. Kết hợp chỉ chưa đầy 2 năm, nhưng nhờ ăn ý mà tên tuổi của Minh Phụng – Mỹ Châu ngày càng tỏa sáng. Cả hai được các hãng băng đĩa thực hiện gần 500 chương trình ca cổ và vở tuồng cải lương nức lòng dân mộ điệu.

Vai diễn cuối cùng trên sân khấu của NSƯT Mỹ Châu là vai Võ Tắc Thiên vào năm 2002. Chín suất diễn của vở cải lương tuồng cổ “Võ Tắc Thiên” là cách chia tay khán giả của một “giọng hát liêu trai”, một “nữ hoàng kiếm hiệp” được đông đảo công chúng ngưỡng mộ.

NSƯT Mỹ Châu cho biết: “Đến với nghề diễn bình lặng, tôi ra đi cũng bình lặng. Tôi không giã từ sân khấu mà chỉ dừng lại, để thầm lặng giữ nghề, giữ mãi hình ảnh đẹp trong lòng công chúng”. Trước khi dừng sự nghiệp, NSƯT Mỹ Châu thực hiện hoàn tất 5 Album DVD xuyên suốt một chủ đề “Tạ tình tri âm” như gửi gắm tình cảm của bản thân đối với khán giả mộ điệu đã dành cho cô. “Với khán giả tri âm, tôi luôn mang nặng lòng biết ơn, niềm cảm kích sâu sắc. “Tạ tình tri âm”, đó là những tình cảm tràn đầy của tôi dành cho họ, là dấu ấn cuối cùng trong sự nghiệp của tôi gửi đến những khán giả thân yêu” – NSƯT Mỹ Châu bộc bạch.

Nghệ sĩ Mỹ Châu: ‘Cuộc đời tôi dành hết cho sân khấu’

Gần 60 năm gắn bó cải lương như máu thịt, nghệ sĩ chia sẻ chị may mắn khi có gia đình êm ấm để vững tâm hoạt động nghệ thuật.

 Cuốn “Châu, chút tạ tình tri âm” kể cuộc đời chị sắp ra mắt. Đã rời xa sàn diễn gần 20 năm qua vì sao chị đồng ý xuất bản sách về mình?

– Trước đây, có rất nhiều người muốn viết sách về chị nhưng chị không nhận lời. Từ hồi nào tới giờ chị luôn nghĩ những câu chuyện đời mình chỉ nên sống để dạ chết mang theo, không muốn nói hay để lại gì. Trong nghề, kể cả việc nhận học trò, chị cũng không thích. Chỉ khi nào dàn dựng một vở tuồng trên đài truyền hình và sân khấu cần kỹ lưỡng từng chi tiết, từng lời thoại, lúc đó, chị mới truyền lại tinh hoa của những người đi trước cho người diễn cùng.

Thực ra, vào năm 1995 chị từng gặp tác giả Thanh Thủy trong một chuyến biểu diễn ở châu Âu nhưng lúc đó chưa nói chuyện nhiều. Sau này gặp lại, qua những cuộc nói chuyện, chị cảm nhận được ở Thanh Thủy sự mộc mạc, nhẹ nhàng và rất thật. Vì vậy, chị đồng ý để Thanh Thủy viết sách về mình. Cuốn sách là chút tâm sự nhỏ chị nhờ Thanh Thủy gửi tới độc giả gần xa, không phải điều gì lớn lao lắm đâu. Mọi thứ nhẹ nhàng lắm, không có áp lực nào cả. Vì vậy, chị và người chấp bút thống nhất gọi cuốn sách này là bút ký chân dung – Chút tạ tình tri âm.

Nghệ sĩ Ưu tú Mỹ Châu đã trải qua thời hoàng kim của cải lương và được khán giả mộ điệu nhờ thanh sắc không lẫn với đồng nghiệp. Bà sinh năm 1950 tại Thủ Thừa, Long An. Sau năm 2002, bà sang Mỹ định cư cùng gia đình đến nay.

Nghệ sĩ Ưu tú Mỹ Châu đã trải qua thời hoàng kim của cải lương và được khán giả mộ điệu nhờ thanh sắc không lẫn với đồng nghiệp. Bà sinh năm 1950 tại Thủ Thừa, Long An. Sau năm 2002, bà sang Mỹ định cư cùng gia đình đến nay.

– Có nhan sắc lại sớm thành công trong nghề, chị từng trải qua những cuộc tình nào để lại nhiều dư âm trong đời?

– Mỹ Châu không có may mắn có nhiều mối tình như mọi người nghĩ đâu, vì tình của Mỹ Châu là dành cho sân khấu không à. Cuộc gặp gỡ với ông xã (nghệ sĩ Đức Minh) giống như là một sự sắp đặt của ông trời, gặp là phải nên vợ nên chồng. Mối tình đầu của chị, mẹ không chấp nhận nên chị không dám cãi lời, đến khi gặp ông xã là mối tình cuối cùng. Chị dành hết tình cảm cho sân khấu. Cuộc đời chị đơn giản lắm.

– Cố nghệ sĩ Đức Minh giữ vai trò, ý nghĩa như thế nào với cuộc đời chị?

– Có anh trong đời, chị trở nên dạn dĩ hơn. Trước khi gặp anh, chị sống khép kín, chỉ ăn ở nhà vì có mẹ nấu ngon lắm, ít khi nào đi ăn ngoài tiệm. Từ khi có anh, anh thường chở chị đi ăn ở ngoài đường, lê la các góc phố, mới thấy ở vỉa hè cũng có rất nhiều món ngon. Hồi đó chị thích món nghêu hấp. Chị với anh ngồi ăn bên cột đèn, ăn xong nhìn thấy chồng dĩa cao lắm (cười).

Anh là nghệ sĩ nhưng rất giống chị ở cuộc sống đời thường, là người đơn giản. Không biết trước đó như thế nào nhưng từ khi gặp chị, anh cũng sống theo phong cách của chị. Đi ăn thì đi theo gia đình, còn không anh chở chị đi. Mà ngộ lắm nha, hồi trước chị bị đau thần kinh bao tử nhưng khi về sống với nhau thì hết, không còn bị dị ứng nữa. Trước đó ăn gì cũng bị dị ứng nhưng giờ ăn cua, ăn ghẹ bao nhiêu cũng không sao hết. (cười). Ngày ấy, vợ chồng chị mỗi người đi mỗi đoàn hát, kể cả khi lập gia đình cũng vậy, ít khi nào đứng chung sân khấu.. Nếu may mắn mà có đi chung thì cứ đi, còn không mỗi người đi mỗi đoàn, rất thoải mái.

Nghệ sĩ cải lương Mỹ Châu bên chồng - cố nghệ sĩ Đức Minh.

Nghệ sĩ cải lương Mỹ Châu bên chồng – cố nghệ sĩ Đức Minh.

– Chị lập gia đình muộn và không có con. Chị cảm nhận thế nào về cuộc sống của mình hiện tại?

– Chị không thấy buồn. Vì cuộc đời chị là sống với các cháu của chị. Khi chị đi hát, ngoài mẹ, chị Tư Hồng Châu còn có anh Ba và các cháu. Thành ra hồi đó chị đi hát vui lắm, bước xuống xe là có gia đình đầy đủ hết. Các cháu gắn bó với chị từ nhỏ, gần chục đứa luôn. Thành ra tình thương của chị đặt trọn vẹn hết cho các cháu.

– 11 tuổi chị đi hát và mau chóng thành danh, kiếm được rất nhiều tiền, được ví như triệu phú thời đó. Lúc đó, chị sử dụng tiền ra sao?

– Nói cho mọi người thương chứ chị không biết gì về tiền bạc, và chị cũng không bận tâm. Khi chị chưa tới tuổi để ký tên trong giao kèo hợp đồng thì mẹ chị ký. Lớn lên chị ký được thì ký nhưng tiền bạc tất cả là mẹ và chị Hồng Châu đứng tên quyết định, kể cả mua xe, nhà cửa. Mẹ muốn dùng số tiền đó cho ai, mẹ chỉ hỏi ý chị, chị cũng chỉ biết dạ thôi vì không bao dám làm trái ý mẹ.

Chị có may mắn nổi tiếng sớm, vì chị đặt tất cả vào sân khấu. Mỗi lần hát xong, mẹ lãnh tiền là chuyện của mẹ. Chỉ khi mẹ mất rồi đến chị Hồng Châu mất, chị mới biết cầm chìa khóa, biết nặng cái đầu, bắt đầu tính toán tiền bạc cho ai, mua cái gì, làm việc này việc nọ… Chị thấy mệt lắm. Hồi đó khỏe vì có mẹ và chị, chị chỉ có biết hát thôi.

– Chị thích sống một cách đơn giản, chừng nào các cháu rảnh thì đưa chị về Việt Nam thăm mồ mả ông bà cha mẹ, nhà thờ từ đường ở Thủ Thừa (Long An), ghé thăm mộ của ông xã rồi thăm những người bạn bè thân tình. Chỉ vậy thôi.

– Vì sao trong sách, chị ít đề cập về những khó khăn trong hàng chục năm gắn bó nghề hát?

– Trong cuốn sách, chị gần như kể hết 99% câu chuyện đời mình. Những chuyện trong một phần trăm còn lại chẳng có gì hết, chỉ là chuyện ngoài lề thôi. Đi hát mà, chuyện phía sau hậu trường người nào cũng phải gặp. Đó là sự thường. Nó đâu khác gì một xã hội thu nhỏ, nên mấy chuyện khó khăn đó với chị không quá quan trọng. Khán giả rất tế nhị, không bao giờ hỏi những chuyện đó. Khán giả mà thương Mỹ Châu hình như đều biết tới bản tánh của chị, biết cách sống của chị là không thích nói về mình và cũng không thích nói về người khác.

* Nghệ sĩ Mỹ Châu hát “Bà lão ăn mày”

Nghệ sĩ Mỹ Châu hát "Bà lão ăn mày"

– Sau năm 1975, chị từng được thay vai cho cố nghệ sĩ Thanh Nga qua các vở “Tấm lòng của biển”, “Dương Vân Nga”, “Tiếng trống Mê Linh”, “Bên cầu dệt lụa”, “Sau ngày cưới”… Lúc đó chị có bị áp lực?

– Chị rất yêu thích những vở tuồng có chị Thanh Nga hát, thành ra khi được mời là chị nhận lời. Nói thiệt, chị không có bị áp lực như mọi người nghĩ. Người thầy dạy cho chị Thanh Nga là má Bảy Phùng Há, và chị cũng từng đem các vở tuồng đến nhờ má Bảy Phùng Há dạy. Cho nên chị thay vai cho chị Thanh Nga cũng ăn rơ, có tương đồng về phong cách.

Khi chị Thanh Nga mất, chị xin phép đoàn về Sài Gòn nghỉ một đêm, dù chị biết khi chị nghỉ là đoàn cũng phải nghỉ. Chị xin về để thắp cho chị Thanh Nga nén nhang. Về Sài Gòn, chị cùng mẹ đến đốt nhang cho chị Thanh Nga, sau đó chị ra ngoài hàng kiểng ngồi một lúc rồi mới trở về đoàn.

 Trải qua hai thời kỳ hoàng kim của cải lương, giờ thấy bộ môn nghệ thuật truyền thống này bị nhận xét là “một cái xác không hồn”, chị có suy nghĩ gì?

– Buồn lắm. Chị không thấy đau mà buồn dữ lắm. Tại sao cải lương lại rơi vô tình cảnh này? Chị chưa bao giờ nghĩ cải lương lại có số phận như vậy.

Trước đây mọi người tập tuồng vui lắm, có khi tập đến hai giờ chiều, bụng đói meo nhưng ai cũng tươi cười. Không phải như bây giờ tập tuồng mà thiếu người này người kia. Rồi không tìm ra những giọng ca độc đáo, nghĩa là những giọng ca vừa cất lên là khán giả phải biết đó là ai. Bên tân nhạc, khi chị Thanh Thúy, chị Phương Dung, chị Thanh Tuyền cất lên là khán giả biết ngay người đó là ai rồi. Bên cải lương thì có chị Út Bạch Lan, chị Ngọc Giàu. Nhưng bây giờ không tìm ra một giọng ca đặc biệt, độc đáo mà cứ na ná giống nhau, cất lên không biết là ai, chị không hiểu vì sao. Còn hồi xưa mỗi năm lại xuất hiện một người có chất giọng rất lạ, không lẫn vào ai.

Quan trọng hơn là không có sân khấu để trau dồi. Có thể người nghệ sĩ còn non đi, nhưng cần phải có môi trường để trau dồi, trui luyện nghề nghiệp hàng đêm. Rồi tuồng tích nữa, đang thiếu trầm trọng, không có tuồng để người ta cảm nhận đó là tuồng hay. Giờ cứ nghe xong rồi quên. Nói theo kiểu duy tâm, chị vẫn mong có một phép màu nào đó để cải lương được sống lại một phần nào thời hoàng kim thuở trước. Chị vẫn hy vọng và cầu mong. Hôm bữa về Việt Nam, chị có đến nhà thờ tổ của Hoài Linh và chị cũng cầu nguyện như vậy.

Nguồn: tổng hợp