Hồi ức đẹp về Cố NSND Út Trà Ôn: Người nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca”

0
1725

Ở thời điểm đỉnh cao của sự nghiệp, NSND Út Trà Ôn được người ta gọi bằng nhiều danh xưng, trong đó nhiều nhất là “đệ nhất danh ca” và “vua vọng cổ”. Từ một anh nông dân mê hát, Út Trà Ôn đã trở thành một biểu tượng của nghệ thuật cải lương nhưng để xây được tượng đài ấy, ông đã trải qua một hành trình dài học tập và phấn đấu.

Anh nông dân lập kỷ lục về mức cát-xê

Út Trà Ôn là con thứ mười trong một gia đình làm nông, cha mẹ mất sớm nên Mười Út vất vả từ nhỏ. Khi những đứa trẻ trong làng mải mê với những trò trận giả thì cậu bé Mười Út vất vả trên cánh đồng. Giữa cái nắng oi bức, Mười Út lấy ca hát làm niềm vui. Từ chuyện ca cho vui, Mười Út được dân làng tín nhiệm cho vào ban nhạc lễ của làng. Dần dần, các nhạc sư trong làng dạy ông học ca 20 bài bản tổ của cổ nhạc.

Với vốn liếng ít ỏi ấy, chàng thanh niên Mười Út lên Sài Gòn lập nghiệp. Khi ấy là năm 1937, ông 18 tuổi. Ông được giới thiệu với đài phát thanh Sài Gòn và giọng ca truyền cảm, ấm áp, đậm chất miền Tây của ông đã chinh phục khán giả. Thuở ấy, chàng trai 18 tuổi nổi danh khắp các tỉnh miền Nam. Chàng trai trẻ Mười Út được bầu show, khán giả chào đón nồng nhiệt. Khi ấy cậu bé Mười Út choáng ngợp với thành công đến bất ngờ. Giờ đây, thay vì chân lấm tay bùn trên đồng ruộng, Mười Út đứng trên sân khấu, được ca, được diễn, được đón nhận những tràng pháo tay cuồng nhiệt của khán giả. Đây cũng là thời điểm ông lấy nghệ danh Út Trà Ôn.

Vốn là một nông dân, phải làm việc nơi đồng ruộng từ khi còn nhỏ nên Út Trà Ôn không biết đọc, nhưng điều đó chẳng thể cản bước Út Trà Ôn đến với thành công. Tình yêu dành cho sân khấu, cho những điệu vọng cổ đã giúp ông học thuộc kịch, lời ca mà diễn thật ngọt mà chẳng cần phải biết chữ.

Mỗi khi nhận vai mới, ông sẽ nhờ một người đọc kịch bản cho mình nghe, cứ đọc đi đọc lại nhiều lần cả lúc ngồi ăn cơm, hay trước khi ngủ, đến khi tập kịch ông sẽ nhớ vanh vách không thiếu một từ. Không chỉ thuộc chay, ông còn thể hiện cảm xúc của mỗi đoạn ca rất ngọt. Vì vậy mà, nhiều người không nghĩ Út Trà Ôn không biết chữ.

NSND Út Trà Ôn: Nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca”Nghệ sĩ tài danh Út Trà Ôn.

Điều làm nên sức hút cho giọng ca của Út Trà Ôn chính là do ông có làn hơi đồng pha thổ trầm ấm cùng phong cách ca ngâm độc đáo, vừa luyến láy kỹ thuật nhưng lại vừa chân phương. Không chỉ vậy, ông còn được coi là bậc thầy về lối hành văn, sắp chữ. Câu nhiều chữ ông ca vẫn hay, câu ít chữ kéo ra vẫn duyên dáng. Phát âm tròn vành, nhịp nhàng chắc chắn, trầm bổng rõ ràng. Chính vì vậy mà người ta không ngớt lời ca tụng ông. Báo giới và khán giả trao cho ông nhiều danh xưng và 2 trong số đó là “đệ nhất danh ca” miền Nam và “vua vọng cổ”.

Thuở ấy, ông là nghệ sĩ liên tục lập kỷ lục cát-xê. Năm 1948, Út Trà Ôn ký hợp đồng 50.000 đồng với ông bầu gánh Tiến Hóa. Thời điểm ấy, đây là con số kỷ lục vì nó bằng một nửa giải độc đắc xổ số. Thời gian sau, vì danh tiếng nổi như cồn mà mức cát-xê của ông liên tục tăng từ 50.000 đồng lên 100.000 đồng, 150.000 đồng rồi 300.000 đồng. Năm 1958, Út Trà Ôn gia nhập đoàn Thanh Minh và xác lập kỷ lục về mức cát-xê 750.000 đồng một năm. Con số này đã làm nhiều người khi ấy choáng váng.

Với nguồn thu nhập cao, cuộc sống của Út Trà Ôn cũng vì thế mà rất vương giả. Ông có biệt thự, xe hơi và chi tiêu bạc triệu mà chẳng phải nhíu mày. Ngày ấy, ông có tài xế riêng, có đến 3 người giúp việc. Ai nhìn vào cuộc sống của ông khi ấy đều ngưỡng mộ với thành công mà anh nông dân ngày nào đạt được.

Chung thủy nhất mực dù nhiều bóng hồng vây quanh

Là nghệ sĩ nức tiếng, giàu có, được nhiều cô gái mê mẩn nhưng Út Trà Ôn lại là người đàn ông rất chung thủy. Ông chỉ có duy nhất một người vợ và luôn chung thủy dù thường xuyên được các người đẹp săn đón.

Khi gặp vợ Út Trà Ôn đã là kép chánh rất nổi tiếng, nhưng họ lại gặp nhau trong hoàn cảnh hết sức bình dân. Thuở ấy, Út Trà Ôn dù có mức cát-xê cao ngất ngưởng nhưng lại không đến các nhà hàng sang trọng mà thường xuyên lui tới một quán cơm bình dân nằm trong hẻm, quán chuyên bán cho sinh viên, công nhân để ăn. Ông đến đây ăn cơm không phải chỉ do thói quen ăn uống giản dị mà còn để ngắm cô con gái duyên dáng của ông chủ quán cơm để rồi họ nên duyên vợ chồng.

Người vợ trẻ khi ấy là một cô gái xinh xắn và tính tình chân thật. Những ngày đầu, bà khá e ngại vì ông là nghệ sĩ nổi tiếng, giàu có và được nhiều phụ nữ say mê. Bà sợ ông không chung thủy, sợ ông quan cách vì là người nổi tiếng. Nhưng, sau đó, bà nhận ra Út Trà Ôn là người chân thành, gần gũi, mặc dù là người nổi tiếng nhưng ông rất giản dị.

Tình yêu của Út Trà Ôn và vợ đến rất nhẹ nhàng, dung dị và sau một thời gian tìm hiểu, họ nên duyên vợ chồng. Để có được một Út Trà Ôn thủy chung nhất mực với gia đình, phải kể đến sự khéo léo, ứng xử tuyệt vời của vợ ông. Mặc dù các bóng hồng luôn vây quanh ông nhưng bà chưa bao giờ tỏ ý ghen tuông. Khi gặp những cô gái vồ vập, muốn lôi kéo sự chú ý của Út Trà Ôn, bà cũng chỉ mỉm cười độ lượng.

NSND Út Trà Ôn: Nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca” (Hình 2).NSND Út Trà Ôn và vợ – bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Cuộc sống của gia đình ông cũng nhờ thế mà rất êm ấm, không xảy ra bất cứ điều tiếng gì. Hai ông bà đã cùng nhau bước qua nhưng thăng trầm của nghệ thuật sân khấu cải lương. Ở thời điểm các sân khấu cải lương ít sáng đèn, bà chính là người đã gánh vác gia đình thay ông. Một tay bà lo lắng kinh tế để các con được học hành, cuộc sống gia đình không bị xáo trộn. Không chỉ đảm đương gánh nặng kinh tế, bà còn là nguồn động viên tinh thần khi Út Trà Ôn buồn lòng chứng kiến sức hút của cải lương giảm dần. Thế nên, trong mắt của Út Trà Ôn vợ ông là người phụ nữ tuyệt vời. Cuộc đời ông được trọn vẹn chính là nhờ người phụ nữ hiền dịu, tần tảo ấy. Vì vậy, khi nhắc đến Út Trà Ôn không thể không nhắc đến người vợ xinh đẹp, đảm đang và giỏi giang của ông.

Khi nhắc đến NSND Út Trà Ôn người ta không thể không nói đến bài vọng cổ Tình anh bán chiếu. Chỉ có 6 câu vọng cổ, trình bày chưa đến 10 phút nhưng nó đã đưa Út Trà Ôn và Viễn Châu lên “ngôi vua” của làng vọng cổ. Nội dung bài ca khá đơn giản, chỉ là tâm sự của một thanh niên làm nghề bán chiếu phải lòng một cô gái đặt mua. Khi anh trở lại giao chiếu như giao hẹn thì cô gái đã sang ngang mà có biết đâu anh bán chiếu đã thầm thương trộm nhớ. Chính sự đơn giản ấy mà Tình anh bán chiếu trở nên gần gũi với cuộc sống.

Giữa thập niên 1960, đĩa hát Tình anh bán chiếu đã tạo nên một làn sóng ủng hộ rộng lớn ngay sau khi phát hành. Bài ca thâm nhập vào mọi ngõ ngách ở miền Nam, từ các nhóm đờn ca tài tử cho đến tiểu thương, quân đội, công chức… Hầu như người miền Nam nào cũng biết đến bài vọng cổ này. Không chỉ được yêu thích ở miền Nam, Tình anh bán chiếu còn được nhiều người miền Trung, miền Bắc yêu thích.

Gã si tình nặng nghiệp cầm ca: Út Trà Ôn và Tình anh bán chiếu

NSND Út Trà Ôn khi đã chơi thì ngông lắm nhưng hễ làm nghề là hết mình. 

“Hoàng đế vọng cổ”

Tôi lục trong trí nhớ, tìm kiếm lại những mẩu chuyện đời mà mình đã tích lũy trong cả mớ nỗi niềm của người nghệ sĩ (NS). Tôi chợt nhớ một lần đi từ Bạc Liêu về Sài Gòn, tới chợ Phụng Hiệp thì xe hơi hư máy, phải đậu lại sửa. Khi ngồi nghỉ, tôi thấy một anh chàng ôm đôi chiếu bông đứng mệt nhọc giữa trưa nắng như chờ ai trước một căn nhà đóng kín, xa xa lại có một đám cưới.

NSND Út Trà Ôn (phải) và NSND Viễn Châu thời trai trẻ. Ảnh tư liệu của NSND Viễn Châu

Nhân đây, tôi cũng xin nói rõ về chất liệu hình thành câu chuyện Tình anh bán chiếu, bởi một số tờ báo trong và ngoài nước đã hư cấu quá đà. Khi đó, tôi chỉ nhìn chứ chưa hề nói chuyện với anh bán chiếu câu nào. Một số báo bịa ra chuyện tôi đến hỏi thăm, rồi mới biết anh từ Cà Mau đem chiếu lên Phụng Hiệp giao nhưng cô chủ nhà đi đâu mất biệt.

Chuyện chỉ có vậy nhưng với con mắt của người viết, tôi nhìn anh bán chiếu và nghĩ ngay đến một mối tình, rồi tự hỏi tại sao mình không cho anh bán chiếu mang tâm trạng hụt hẫng trước một tình yêu đơn phương? Thế rồi, tôi đã viết liền 4 câu hò khi nghĩ tới “món nợ” với anh Mười mà mình đã nhận với bà chủ hãng dĩa: Hò ơi, chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm/ Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu/ Chiếu này tôi chẳng bán đâu/ Tìm cô không gặp/ Hò ơi, tìm cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm.

Tôi đã viết kịp bài vọng cổ Tình anh bán chiếu để anh Mười thu dĩa. Hồi đó, báo giới Sài Gòn đã phong cho anh Mười là Hoàng đế vọng cổ khi dĩa Tình anh bán chiếu được tái bản liên tục.

Giọng ca thiên phú

Năm 1960, ký giả Trần Tấn Quốc tổ chức cuộc trưng cầu ý kiến khán giả trên nhật báo Tiếng Dội và anh Mười chiếm đầu bảng với danh hiệu Đệ nhất danh ca miền Nam; còn Đệ nhất danh ca miền Bắc là NS Huỳnh Thái ở Hà Nội.

Tôi biết NSND Út Trà Ôn trước đó nhưng ít có dịp tiếp xúc, chỉ nghe anh ca bài Tôn Tẩn giả điên mà đã thấy nể vì chất giọng điêu luyện. Sau này, khi cộng tác với Đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn, có dịp trao đổi, làm việc, tôi thật sự kính mến nhân cách người NS, đặc biệt là giọng ca thiên phú của anh Mười.

Anh Mười luôn cầu tiến. Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm tròn vành, rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp… Nếu lắng nghe NSND Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ chính là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi chất chứa sự “giàu có” của làn hơi.

Anh Mười khi đã chơi thì ngông lắm nhưng hễ làm nghề là hết mình. Trước khi diễn, anh vẽ cặp chân mày đến 2 giờ. Hồi anh làm đoàn hát, NSƯT Diệu Hiền được tăng cường về hát chánh. Một lần, Diệu Hiền vô câu vọng cổ: Cha ơi con biết mình đã làm nên tội. Ơn của cha con ngàn đời ghi nhớ khi cha đã hy sinh cho con có một cuộc sống đủ… đầy. Vậy mà, nhìn thần sắc của anh Mười, Diệu Hiền sợ quá nên quên lời, thay vì “đủ đầy” thì cô lại ca… “đẩy đù”. Anh Mười tức giận xô cô té nhào xuống dàn đờn.

Bị Hồng Nga chơi khăm

Út Trà Ôn rất khoái chơi số đề. Người “thường trực” nằm mộng cho số để anh Mười đánh đề không ai xa lạ chính là NSƯT Hồng Nga. Lúc đó, Hồng Nga còn bé xíu, đen đúa, mập ú, được nhận vào đoàn hát để phụ việc lặt vặt cho anh Mười. Siêng năng nhưng rất lí lắc, biết thần tượng thích chơi đề, cô bày ra trò nằm mơ báo mộng để anh Mười bàn số.

Một buổi sáng, anh Mười hỏi Hồng Nga: “Tối qua, mày nằm chiêm bao thấy cái gì?”. Hồng Nga thưa: “Dạ, tối qua con không nằm mơ”. Anh Mười tức giận: “Tao ra lệnh bây giờ mày phải đi ngủ để chiêm bao, rồi cho tao biết số mà ghi đề”. Hồng Nga leo lên giường ngủ một giấc tới trưa rồi bật dậy, bịa: “Con gặp vua huỳnh đế, ông ấy cho 5 xu”. Anh Mười gãi đầu: “Làm gì có ông vua huỳnh đế nào, chắc là con cua huỳnh đế”. Anh bàn số rồi ghi đề… Chiều đó xổ số trật lất, Hồng Nga trốn biệt. Từ ngày biết bị cô bé giúp việc chơi khăm, anh Mười nghỉ chơi đề luôn.

Hồng Nga thường tìm cách chọc ghẹo anh Mười trong những tình huống gay cấn. Lúc diễn vở tuồng Tuyệt tình ca, Hồng Nga  – đóng vai bà giáo Lan – nắm tay anh Mười – vai ông cò – rồi ém hơi nói nhỏ: “Bàn tay này chơi xập xám hoài coi chừng có ngày bị cảnh sát hỏi thăm”. Đang lúc diễn đoạn ông cò gặp lại người vợ sau nhiều năm xa cách, không thể phản ứng gì mà phải tỏ ra mùi mẫn, lâm ly, anh Mười chỉ biết đưa mắt “căm hờn” trừng Hồng Nga. Sau lớp diễn, anh Mười vào hậu trường tìm thì Hồng Nga đã trốn biệt, tới lớp mới lại lò dò ra sân khấu…

Quá khứ ít ai biết của NSND Lệ Thủy: Từng bị đoàn cải lương Út Trà Ôn từ chối, đi hát không vì đam mê

Là nghệ sĩ nổi tiếng, được khán giả nhiều thế hệ yêu mến nhưng ít ai biết được quá khứ của NSND Lệ Thủy. Bà cũng trải qua tuổi thơ cơ cực như ai. Lúc mới đi hát bà chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền lo cho gia đình chứ không phải hát vì đam mê.

Nhắc đến NSND Lệ Thủy, ai ai cũng biết đến bà là một trong những nghệ sĩ cải lương gạo cội, góp phần đưa bộ môn nghệ thuật này đến gần hơn với khán giả. Bắt đầu đứng trên sân khấu khi chỉ chưa đầy 15 tuổi, đến nay ở độ tuổi 71, bà dần lui về ở ẩn nhưng giọng hát ngọt ngào của người nghệ sĩ tài danh vẫn sống mãi trong lòng công chúng.

Mới đây, trong hồi ký Một kiếp cầm ca – Sinh ra để hát kỷ niệm 60 năm ca hát của NSND Lệ Thủy đã kể lại những chuyện chưa lần nào bà tâm sự trước công chúng.

Ở tuổi 71, NSND Lệ Thủy vẫn rạng rỡ, tràn đầy sức sống.

NSND Lệ Thủy kể trong giai đoạn mới lên Sài Gòn, bà chỉ sống quanh quẩn ở nhà, chăm em, phụ giúp mẹ và đi làm bột. Trong một dịp tình cờ, một người bạn của mẹ nghe được nữ nghệ sĩ hát và nảy ra ý định đưa bà vào gánh hát để phát triển tài năng. Tuy nhiên, thân mẫu của Lệ Thủy lại cho rằng đây là chuyện xa vời và không thể thực hiện được.

Nhưng với sự thuyết phục của người bạn này, mẹ NSND Lệ Thủy đồng ý và bà được giới thiệu sang đoàn của NSND Út Trà Ôn. Tuy công nhận giọng hát Lệ Thủy tốt nhưng đoàn vẫn từ chối vì đã có giọng ca nhí – tức nghệ sĩ Kim Tuyến bây giờ.

NSND Lệ Thủy thời mới vào nghề.

Không bỏ cuộc, nửa năm sau có đoàn Trâm Vàng tuyển diễn viên, được nghệ sĩ Tám Minh Nguyệt giới thiệu, Lệ Thủy đã tự tin ca trước hai vị trưởng đoàn và được nhận xét có triển vọng. Từ đó, bà được cho theo đoàn hát nhưng gặp không ít khó khăn, đến nỗi quyết định bỏ nghề. “Ngày ấy nói thật ban đầu tôi theo đoàn là vì muốn có tiền lo cho gia đình chứ không phải đam mê” – NSND Lệ Thủy kể lại.

Thế nhưng, khi về đến nhà nhìn thấy cảnh gia đình đói khổ, Lệ Thủy quay trở lại đoàn. Bà làm đủ mọi mọi việc trong đoàn từ đi chợ, nấu ăn, lo hậu trường. Ngoài ra, Lệ Thủy còn được giao nhiệm vụ ngâm thơ ở sau cánh gà để các nghệ sĩ trên sân khấu diễn.

May mắn thay nhờ việc ham học hỏi, Lệ Thủy 13 tuổi ngày ấy đã bộc lộ năng khiếu dù không xuất hiện trước sân khấu nhưng vẫn được khán giả khen là có giọng hát hay. Vậy nên sau khi kết thúc buổi biểu diễn, bà được thưởng 10 đồng – đó cũng là mức lương đầu tiên mà NSND Lệ Thủy nhận được.

Lệ Thủy từng bị đoàn của NSND Út Trà Ôn từ chối dù có giọng hát ngọt như mía lùi.

Sau một thời gian theo đoàn để học hỏi, cuối cùng cơ hội cũng đến với Lệ Thủy. Lúc đó, nghệ sĩ Viễn Châu đang cần một người thử vai tiểu đồng trong vở Quan Âm Thị Kính và bà được lựa chọn. Nhớ lại khoảnh khắc đó, NSND Lệ Thủy cho biết: “Lúc đó tôi mừng quá, mọi người nói rằng đi thâu đĩa thì ᶊợ lắm. Nhưng tôi thì ‘điếς không ᶊợ ᶊúng’, tôi ca hết mình”. Và sau khi nổi tiếng với đĩa hát vở Quan Âm Thị Kính, bà tiếp tục được thâu vở Nấu bánh đêm xuân và kiếm được mấy trăm đồng mang về cho mẹ…

Từ trước đến nay, NSND Lệ Thủy chưa bao giờ kể về giai đoạn khổ sở trong cuộc đời mình. Khán giả chỉ nhìn thấy một Lệ Thủy xiêm áo lộng lẫy trong các vai diễn, nhưng không ai hiểu được những lầm lũi cay đắng mà bà từng trải qua. Gia đình bà cũng khó khăn, vất vả như ai, ăn được bữa sáng lại lo buổi chiều không có cái để ăn.

Lệ Thủy là nghệ sĩ đã làm rạng danh nền cải lương.

Minh Vương, Lệ Thủy – ‘tình nhân dễ kiếm, tri kỷ khó tìm’

Hơn nửa thế kỷ qua, đôi song ca ‘sóng thần’ chinh phục khán giả bằng những tác phẩm cải lương kinh điển và tình yêu dành cho sân khấu.

Gần 60 năm ca hát, NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương trở thành tên tuổi kỳ cựu thuộc “thế hệ vàng” cải lương. Sự gắn bó của họ kéo dài nhiều thập niên qua – điều hiếm cặp nghệ sĩ khác của làng sân khấu Nam bộ có được.

NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương được trao danh hiệu Đôi nghệ sĩ cải lương đóng chung lâu năm và ưng ý nhất năm 2008.
NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương được trao danh hiệu “Đôi nghệ sĩ cải lương đóng chung lâu năm và ưng ý nhất” năm 2008.

Năm 1964, ở tuổi 14-15, Nguyễn Văn Vưng nổi lên với tài ca cổ sau khi đoạt giải nhất cuộc thi Khôi nguyên vọng cổ. Chàng thiếu niên quê Long An có chất giọng cao sáng, ngoại hình khôi ngô lập tức lọt vào mắt xanh của bầu Long, đoàn Kim Chung. Ông mời Vưng về đoàn, đặt nghệ danh là Minh Vương. Cuộc hội ngộ định mệnh này giúp Minh Vương gặp Lệ Thủy. Khi đó, nữ nghệ sĩ đã nổi tiếng với các đào chánh, đào nhì cạnh các tên tuổi lừng lẫy như Minh Phụng, Thanh Hải… Lần diễn chung đầu tiên, hai người vào vai mẹ con trong vở Thượng phương bảo kiếm. Đến tuồng thứ hai, họ mới đóng cặp.

Minh Vương, Lệ Thủy hát tân cổ ‘Bánh bông lan’.

Bản vọng cổ đầu tiên Minh Vương – Lệ Thủy thu âm trên đĩa là Bánh bông lan của soạn giả Loan Thảo. Nhạc phẩm với giai điệu mộc mạc, ca từ hồn hậu, kể về chàng trai, trong một lần đi xe về miền Tây, đã phải lòng cô gái bán bánh chịu thương, chịu khó. Mỗi lần về tỉnh, anh đều tìm mua bánh của cô. Lối hát chân phương, thể hiện tình cảm khi rụt rè lúc nồng nàn của Minh Vương quyện hòa với cách ca, diễn lém lỉnh, duyên dáng của Lệ Thủy. Ở cuối bản, câu “Tui nhớ cô Hai” của chàng trai – với biểu cảm tình tứ của Minh Vương – “đốn tim” hàng loạt khán giả mộ điệu. Bản ca cổ được Lệ Thủy thu âm vào độ tuổi 25-26, thời điểm chất giọng của bà đạt độ đầy đặn, căng tràn nhất. Sau khi ra mắt, nhạc phẩm nổi tiếng khắp các tỉnh miền Tây, trở thành ca khúc đóng đinh “thương hiệu” Minh Vương – Lệ Thủy.

Đầu thập niên 1970, tên tuổi của Minh Vương tỏa sáng hơn, được nhiều hãng thu thanh để ý, mời ký hợp đồng. Ông dần thay thế Minh Phụng, trở thành “tình nhân sân khấu” của Lệ Thủy với các vở Đêm lạnh chùa hoang, Tô Ánh Nguyệt, Nửa đời hương phấn, Máu nhuộm sân chùa

Sau năm 1975, tên tuổi Minh Vương – Lệ Thủy càng sáng giá khi về chung Đoàn văn công TP HCM. Họ ghi dấu ấn trong các vai kinh điển, trở thành quy chuẩn cho nhiều nghệ sĩ trẻ mỗi dịp tái dựng tuồng cũ. Xem Tô Ánh Nguyệt, khán giả khó thể quên ánh mắt day dứt của Nguyệt khi phải trao con cho người yêu để về báo hiếu mẹ bệnh nặng, hay cái nhìn đau đáu của Minh mong được Nguyệt tha thứ và nối lại tình xưa. Còn trong vở Đêm lạnh chùa hoang, Minh Vương với vai Tần Lĩnh Sơn đã đóng đinh vào tâm khảm khán giả nhiều thế hệ qua những lời ca về “Bảo Xuyên” Lệ Thủy: “Bảo Xuyên ơi, đêm nay giữa canh trường cô liêu. Ta gối đầu trên đá, thèm giấc mơ yêu. Đắm hồn vào mộng liêu trai. Để yêu em được trọn lòng. Không ngăn cách bởi biên thùy”.

Đánh giá về cặp nghệ sĩ kinh điển của làng cải lương, bà Hồng Dung – Phó chủ tịch Hội sân khấu TP HCM cho rằng đây là một trong số đôi song ca hiếm hoi hợp ý về lối diễn lẫn tính cách ngoài đời. Cả hai đều sở hữu giọng hát hiếm có về màu sắc, những xử lý đặc trưng, chỉ cần cất lên là biết Minh Vương – Lệ Thủy. Sự kết hợp của hai danh ca càng khiến các tác phẩm trở nên nổi trội. Lệ Thủy từng gắn bó với nhiều kép tên tuổi khác như Minh Cảnh, Minh Phụng, Thanh Tuấn, Thanh Sang… Minh Vương cũng nhiều lần song ca cùng các cô đào Bạch Tuyết, Phượng Liên, Diệu Hiền, Thoại Miêu, Thoại Mỹ, Thanh Thanh Tâm… Nhưng những lần “liên doanh” với các nghệ sĩ khác đều khó thể xóa nhòa ấn tượng trong lòng người mộ điệu về tượng đài Minh Vương – Lệ Thủy.

Đạo diễn Thanh Hiệp – người có dịp gắn bó với cặp nghệ sĩ qua nhiều chương trình sau này – đánh giá mỗi lần hợp tác trong vở nào, Minh Vương và Lệ Thủy đều như “một cặp trời sinh”, khó tách rời. Hơn 60 năm ca hát, nhắc đến Lệ Thủy, đông đảo người mộ điệu đều nhớ đến Minh Vương và ngược lại. Ngoài đời, họ vui vầy với mái ấm riêng, nhưng mỗi khi lên sân khấu, cặp nghệ sĩ có sự đồng cảm đặc biệt. Mỗi lần Lệ Thủy thay đổi ánh nhìn hay dợm bước chân, xoay người, Minh Vương liền biết ý đưa tay, ôm vai để phối hợp.

Minh Vương - Lệ Thủy thân thiết trong hậu trường.
Minh Vương – Lệ Thủy thân thiết trong hậu trường.

Lệ Thủy kể nhiều lần chỉ có bà hoặc Minh Vương xuống các tỉnh miền Tây đi hát. Không thấy cặp bài trùng đi cùng nhau, khán giả hỏi ngay người còn lại ở đâu. Không biết bao lần, bà được người hâm mộ vây quanh hỏi thăm về mối quan hệ ngoài đời với Minh Vương… Có giai đoạn, sức khỏe Minh Vương xuống dốc vì điều trị thận, ông vẫn thỉnh thoảng cùng Lệ Thủy lưu diễn. Họ thường song ca bản Bánh bông lan để đáp lại lòng mến mộ của khán giả. “Tôi và anh Minh Vương cùng khán giả ăn bánh bông lan mấy chục năm mà không ngán, càng ăn càng thấy ngọt”, Lệ Thủy tâm sự.

Năm 2008, Minh Vương – Lệ Thủy được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam trao tặng danh hiệu Đôi nghệ sĩ cải lương đóng chung lâu năm và ưng ý nhất. Kỷ lục này dựa trên chuỗi thành tựu của hai tên tuổi: quay video cải lương đầu tiên và nhiều nhất, thu âm và phát hành album song ca cổ nhiều nhất… Theo thống kê của trung tâm này, đôi nghệ sĩ đã xuất hiện trong hơn 200 vở tuồng và hàng trăm bài tân cổ giao duyên.

Không chỉ gắn bó ở thời vàng son của cải lương, cả hai còn thân thiết ở tuổi xế chiều, dành trọn tình yêu cho sân khấu. Năm 2008, họ ra mắt Sân khấu vàng – một chương trình xã hội hóa, do nhà hát Trần Hữu Trang quản lý, vừa là sân chơi cho các nghệ sĩ cải lương gạo cội, vừa tạo nguồn quỹ làm từ thiện. Nhiều vở kinh điển được phục dựng như Tô Ánh Nguyệt, Đoạn tuyệt, Rạng ngọc Côn Sơn, Tình mẫu tử, Đêm lạnh chùa hoang… Hơn một năm ra mắt, chương trình công diễn sáu vở, trao tặng hàng chục căn nhà tình thương cho người nghèo từ tiền bán vé và đóng góp của mạnh thường quân. Tuy vậy, sau năm 2010, chương trình ngừng vì thiếu nhà tài trợ, không đủ thù lao chi trả cho các nghệ sĩ.

Minh Vương, Lệ Thủy trong trích đoạn 'Tô Ánh Nguyệt'
Minh Vương, Lệ Thủy trong trích đoạn ‘Tô Ánh Nguyệt’.

Ở tuổi 70, Minh Vương – Lệ Thủy vẫn miệt mài đi diễn. Lệ Thủy thường xuyên góp mặt trong Bước chân hai thế hệ – chuỗi chương trình do con trai Dương Đình Trí khởi xướng. Minh Vương vừa góp mặt trong Liên hoan sân khấu cải lương toàn quốc và làm giám khảo cuộc thi Chuông vàng vọng cổ hàng năm. Đeo đuổi những dự án riêng, họ vẫn dành tâm huyết cho sân khấu xã hội hóa.

Cả hai từng nhiều lần gửi gắm lên các nhà quản lý văn hóa về kỳ vọng khôi phục sân khấu cải lương. Họ ước ao các sân khấu xã hội hóa được chia sẻ khó khăn, phần nào có thêm kinh phí dàn dựng tác phẩm mới, giảm tiền thuê nhà hát, sàn tập… Họ vẫn không ngừng mơ về cơ hội sáng đèn dài lâu cho các sàn diễn cải lương, dẫu ngày nay bộ môn nghệ thuật này gặp rất nhiều thử thách để duy trì.

Theo Vnexpress