Hồi ức đẹp về Cố NSND Út Trà Ôn: Người nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca”

0
139

Ở thời điểm đỉnh cao của sự nghiệp, NSND Út Trà Ôn được người ta gọi bằng nhiều danh xưng, trong đó nhiều nhất là “đệ nhất danh ca” và “vua vọng cổ”. Từ một anh nông dân mê hát, Út Trà Ôn đã trở thành một biểu tượng của nghệ thuật cải lương nhưng để xây được tượng đài ấy, ông đã trải qua một hành trình dài học tập và phấn đấu.

Anh nông dân lập kỷ lục về mức cát-xê

Út Trà Ôn là con thứ mười trong một gia đình làm nông, cha mẹ mất sớm nên Mười Út vất vả từ nhỏ. Khi những đứa trẻ trong làng mải mê với những trò trận giả thì cậu bé Mười Út vất vả trên cánh đồng. Giữa cái nắng oi bức, Mười Út lấy ca hát làm niềm vui. Từ chuyện ca cho vui, Mười Út được dân làng tín nhiệm cho vào ban nhạc lễ của làng. Dần dần, các nhạc sư trong làng dạy ông học ca 20 bài bản tổ của cổ nhạc.

Với vốn liếng ít ỏi ấy, chàng thanh niên Mười Út lên Sài Gòn lập nghiệp. Khi ấy là năm 1937, ông 18 tuổi. Ông được giới thiệu với đài phát thanh Sài Gòn và giọng ca truyền cảm, ấm áp, đậm chất miền Tây của ông đã chinh phục khán giả. Thuở ấy, chàng trai 18 tuổi nổi danh khắp các tỉnh miền Nam. Chàng trai trẻ Mười Út được bầu show, khán giả chào đón nồng nhiệt. Khi ấy cậu bé Mười Út choáng ngợp với thành công đến bất ngờ. Giờ đây, thay vì chân lấm tay bùn trên đồng ruộng, Mười Út đứng trên sân khấu, được ca, được diễn, được đón nhận những tràng pháo tay cuồng nhiệt của khán giả. Đây cũng là thời điểm ông lấy nghệ danh Út Trà Ôn.

Vốn là một nông dân, phải làm việc nơi đồng ruộng từ khi còn nhỏ nên Út Trà Ôn không biết đọc, nhưng điều đó chẳng thể cản bước Út Trà Ôn đến với thành công. Tình yêu dành cho sân khấu, cho những điệu vọng cổ đã giúp ông học thuộc kịch, lời ca mà diễn thật ngọt mà chẳng cần phải biết chữ.

Mỗi khi nhận vai mới, ông sẽ nhờ một người đọc kịch bản cho mình nghe, cứ đọc đi đọc lại nhiều lần cả lúc ngồi ăn cơm, hay trước khi ngủ, đến khi tập kịch ông sẽ nhớ vanh vách không thiếu một từ. Không chỉ thuộc chay, ông còn thể hiện cảm xúc của mỗi đoạn ca rất ngọt. Vì vậy mà, nhiều người không nghĩ Út Trà Ôn không biết chữ.

NSND Út Trà Ôn: Nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca”Nghệ sĩ tài danh Út Trà Ôn.

Điều làm nên sức hút cho giọng ca của Út Trà Ôn chính là do ông có làn hơi đồng pha thổ trầm ấm cùng phong cách ca ngâm độc đáo, vừa luyến láy kỹ thuật nhưng lại vừa chân phương. Không chỉ vậy, ông còn được coi là bậc thầy về lối hành văn, sắp chữ. Câu nhiều chữ ông ca vẫn hay, câu ít chữ kéo ra vẫn duyên dáng. Phát âm tròn vành, nhịp nhàng chắc chắn, trầm bổng rõ ràng. Chính vì vậy mà người ta không ngớt lời ca tụng ông. Báo giới và khán giả trao cho ông nhiều danh xưng và 2 trong số đó là “đệ nhất danh ca” miền Nam và “vua vọng cổ”.

Thuở ấy, ông là nghệ sĩ liên tục lập kỷ lục cát-xê. Năm 1948, Út Trà Ôn ký hợp đồng 50.000 đồng với ông bầu gánh Tiến Hóa. Thời điểm ấy, đây là con số kỷ lục vì nó bằng một nửa giải độc đắc xổ số. Thời gian sau, vì danh tiếng nổi như cồn mà mức cát-xê của ông liên tục tăng từ 50.000 đồng lên 100.000 đồng, 150.000 đồng rồi 300.000 đồng. Năm 1958, Út Trà Ôn gia nhập đoàn Thanh Minh và xác lập kỷ lục về mức cát-xê 750.000 đồng một năm. Con số này đã làm nhiều người khi ấy choáng váng.

Với nguồn thu nhập cao, cuộc sống của Út Trà Ôn cũng vì thế mà rất vương giả. Ông có biệt thự, xe hơi và chi tiêu bạc triệu mà chẳng phải nhíu mày. Ngày ấy, ông có tài xế riêng, có đến 3 người giúp việc. Ai nhìn vào cuộc sống của ông khi ấy đều ngưỡng mộ với thành công mà anh nông dân ngày nào đạt được.

Chung thủy nhất mực dù nhiều bóng hồng vây quanh

Là nghệ sĩ nức tiếng, giàu có, được nhiều cô gái mê mẩn nhưng Út Trà Ôn lại là người đàn ông rất chung thủy. Ông chỉ có duy nhất một người vợ và luôn chung thủy dù thường xuyên được các người đẹp săn đón.

Khi gặp vợ Út Trà Ôn đã là kép chánh rất nổi tiếng, nhưng họ lại gặp nhau trong hoàn cảnh hết sức bình dân. Thuở ấy, Út Trà Ôn dù có mức cát-xê cao ngất ngưởng nhưng lại không đến các nhà hàng sang trọng mà thường xuyên lui tới một quán cơm bình dân nằm trong hẻm, quán chuyên bán cho sinh viên, công nhân để ăn. Ông đến đây ăn cơm không phải chỉ do thói quen ăn uống giản dị mà còn để ngắm cô con gái duyên dáng của ông chủ quán cơm để rồi họ nên duyên vợ chồng.

Người vợ trẻ khi ấy là một cô gái xinh xắn và tính tình chân thật. Những ngày đầu, bà khá e ngại vì ông là nghệ sĩ nổi tiếng, giàu có và được nhiều phụ nữ say mê. Bà sợ ông không chung thủy, sợ ông quan cách vì là người nổi tiếng. Nhưng, sau đó, bà nhận ra Út Trà Ôn là người chân thành, gần gũi, mặc dù là người nổi tiếng nhưng ông rất giản dị.

Tình yêu của Út Trà Ôn và vợ đến rất nhẹ nhàng, dung dị và sau một thời gian tìm hiểu, họ nên duyên vợ chồng. Để có được một Út Trà Ôn thủy chung nhất mực với gia đình, phải kể đến sự khéo léo, ứng xử tuyệt vời của vợ ông. Mặc dù các bóng hồng luôn vây quanh ông nhưng bà chưa bao giờ tỏ ý ghen tuông. Khi gặp những cô gái vồ vập, muốn lôi kéo sự chú ý của Út Trà Ôn, bà cũng chỉ mỉm cười độ lượng.

NSND Út Trà Ôn: Nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca” (Hình 2).NSND Út Trà Ôn và vợ – bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Cuộc sống của gia đình ông cũng nhờ thế mà rất êm ấm, không xảy ra bất cứ điều tiếng gì. Hai ông bà đã cùng nhau bước qua nhưng thăng trầm của nghệ thuật sân khấu cải lương. Ở thời điểm các sân khấu cải lương ít sáng đèn, bà chính là người đã gánh vác gia đình thay ông. Một tay bà lo lắng kinh tế để các con được học hành, cuộc sống gia đình không bị xáo trộn. Không chỉ đảm đương gánh nặng kinh tế, bà còn là nguồn động viên tinh thần khi Út Trà Ôn buồn lòng chứng kiến sức hút của cải lương giảm dần. Thế nên, trong mắt của Út Trà Ôn vợ ông là người phụ nữ tuyệt vời. Cuộc đời ông được trọn vẹn chính là nhờ người phụ nữ hiền dịu, tần tảo ấy. Vì vậy, khi nhắc đến Út Trà Ôn không thể không nhắc đến người vợ xinh đẹp, đảm đang và giỏi giang của ông.

Khi nhắc đến NSND Út Trà Ôn người ta không thể không nói đến bài vọng cổ Tình anh bán chiếu. Chỉ có 6 câu vọng cổ, trình bày chưa đến 10 phút nhưng nó đã đưa Út Trà Ôn và Viễn Châu lên “ngôi vua” của làng vọng cổ. Nội dung bài ca khá đơn giản, chỉ là tâm sự của một thanh niên làm nghề bán chiếu phải lòng một cô gái đặt mua. Khi anh trở lại giao chiếu như giao hẹn thì cô gái đã sang ngang mà có biết đâu anh bán chiếu đã thầm thương trộm nhớ. Chính sự đơn giản ấy mà Tình anh bán chiếu trở nên gần gũi với cuộc sống.

Giữa thập niên 1960, đĩa hát Tình anh bán chiếu đã tạo nên một làn sóng ủng hộ rộng lớn ngay sau khi phát hành. Bài ca thâm nhập vào mọi ngõ ngách ở miền Nam, từ các nhóm đờn ca tài tử cho đến tiểu thương, quân đội, công chức… Hầu như người miền Nam nào cũng biết đến bài vọng cổ này. Không chỉ được yêu thích ở miền Nam, Tình anh bán chiếu còn được nhiều người miền Trung, miền Bắc yêu thích.

Gã si tình nặng nghiệp cầm ca: Út Trà Ôn và Tình anh bán chiếu

NSND Út Trà Ôn khi đã chơi thì ngông lắm nhưng hễ làm nghề là hết mình. 

“Hoàng đế vọng cổ”

Tôi lục trong trí nhớ, tìm kiếm lại những mẩu chuyện đời mà mình đã tích lũy trong cả mớ nỗi niềm của người nghệ sĩ (NS). Tôi chợt nhớ một lần đi từ Bạc Liêu về Sài Gòn, tới chợ Phụng Hiệp thì xe hơi hư máy, phải đậu lại sửa. Khi ngồi nghỉ, tôi thấy một anh chàng ôm đôi chiếu bông đứng mệt nhọc giữa trưa nắng như chờ ai trước một căn nhà đóng kín, xa xa lại có một đám cưới.

NSND Út Trà Ôn (phải) và NSND Viễn Châu thời trai trẻ. Ảnh tư liệu của NSND Viễn Châu

Nhân đây, tôi cũng xin nói rõ về chất liệu hình thành câu chuyện Tình anh bán chiếu, bởi một số tờ báo trong và ngoài nước đã hư cấu quá đà. Khi đó, tôi chỉ nhìn chứ chưa hề nói chuyện với anh bán chiếu câu nào. Một số báo bịa ra chuyện tôi đến hỏi thăm, rồi mới biết anh từ Cà Mau đem chiếu lên Phụng Hiệp giao nhưng cô chủ nhà đi đâu mất biệt.

Chuyện chỉ có vậy nhưng với con mắt của người viết, tôi nhìn anh bán chiếu và nghĩ ngay đến một mối tình, rồi tự hỏi tại sao mình không cho anh bán chiếu mang tâm trạng hụt hẫng trước một tình yêu đơn phương? Thế rồi, tôi đã viết liền 4 câu hò khi nghĩ tới “món nợ” với anh Mười mà mình đã nhận với bà chủ hãng dĩa: Hò ơi, chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm/ Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu/ Chiếu này tôi chẳng bán đâu/ Tìm cô không gặp/ Hò ơi, tìm cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm.

Tôi đã viết kịp bài vọng cổ Tình anh bán chiếu để anh Mười thu dĩa. Hồi đó, báo giới Sài Gòn đã phong cho anh Mười là Hoàng đế vọng cổ khi dĩa Tình anh bán chiếu được tái bản liên tục.

Giọng ca thiên phú

Năm 1960, ký giả Trần Tấn Quốc tổ chức cuộc trưng cầu ý kiến khán giả trên nhật báo Tiếng Dội và anh Mười chiếm đầu bảng với danh hiệu Đệ nhất danh ca miền Nam; còn Đệ nhất danh ca miền Bắc là NS Huỳnh Thái ở Hà Nội.

Tôi biết NSND Út Trà Ôn trước đó nhưng ít có dịp tiếp xúc, chỉ nghe anh ca bài Tôn Tẩn giả điên mà đã thấy nể vì chất giọng điêu luyện. Sau này, khi cộng tác với Đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn, có dịp trao đổi, làm việc, tôi thật sự kính mến nhân cách người NS, đặc biệt là giọng ca thiên phú của anh Mười.

Anh Mười luôn cầu tiến. Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm tròn vành, rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp… Nếu lắng nghe NSND Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ chính là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi chất chứa sự “giàu có” của làn hơi.

Anh Mười khi đã chơi thì ngông lắm nhưng hễ làm nghề là hết mình. Trước khi diễn, anh vẽ cặp chân mày đến 2 giờ. Hồi anh làm đoàn hát, NSƯT Diệu Hiền được tăng cường về hát chánh. Một lần, Diệu Hiền vô câu vọng cổ: Cha ơi con biết mình đã làm nên tội. Ơn của cha con ngàn đời ghi nhớ khi cha đã hy sinh cho con có một cuộc sống đủ… đầy. Vậy mà, nhìn thần sắc của anh Mười, Diệu Hiền sợ quá nên quên lời, thay vì “đủ đầy” thì cô lại ca… “đẩy đù”. Anh Mười tức giận xô cô té nhào xuống dàn đờn.

Bị Hồng Nga chơi khăm

Út Trà Ôn rất khoái chơi số đề. Người “thường trực” nằm mộng cho số để anh Mười đánh đề không ai xa lạ chính là NSƯT Hồng Nga. Lúc đó, Hồng Nga còn bé xíu, đen đúa, mập ú, được nhận vào đoàn hát để phụ việc lặt vặt cho anh Mười. Siêng năng nhưng rất lí lắc, biết thần tượng thích chơi đề, cô bày ra trò nằm mơ báo mộng để anh Mười bàn số.

Một buổi sáng, anh Mười hỏi Hồng Nga: “Tối qua, mày nằm chiêm bao thấy cái gì?”. Hồng Nga thưa: “Dạ, tối qua con không nằm mơ”. Anh Mười tức giận: “Tao ra lệnh bây giờ mày phải đi ngủ để chiêm bao, rồi cho tao biết số mà ghi đề”. Hồng Nga leo lên giường ngủ một giấc tới trưa rồi bật dậy, bịa: “Con gặp vua huỳnh đế, ông ấy cho 5 xu”. Anh Mười gãi đầu: “Làm gì có ông vua huỳnh đế nào, chắc là con cua huỳnh đế”. Anh bàn số rồi ghi đề… Chiều đó xổ số trật lất, Hồng Nga trốn biệt. Từ ngày biết bị cô bé giúp việc chơi khăm, anh Mười nghỉ chơi đề luôn.

Hồng Nga thường tìm cách chọc ghẹo anh Mười trong những tình huống gay cấn. Lúc diễn vở tuồng Tuyệt tình ca, Hồng Nga  – đóng vai bà giáo Lan – nắm tay anh Mười – vai ông cò – rồi ém hơi nói nhỏ: “Bàn tay này chơi xập xám hoài coi chừng có ngày bị cảnh sát hỏi thăm”. Đang lúc diễn đoạn ông cò gặp lại người vợ sau nhiều năm xa cách, không thể phản ứng gì mà phải tỏ ra mùi mẫn, lâm ly, anh Mười chỉ biết đưa mắt “căm hờn” trừng Hồng Nga. Sau lớp diễn, anh Mười vào hậu trường tìm thì Hồng Nga đã trốn biệt, tới lớp mới lại lò dò ra sân khấu…