Gia tài “khủng” vô giá của nghệ sĩ cải lương Thanh Tòng

0
83

Nghệ sĩ Thanh Tòng qua đời để lại gia tài vô giá cho sân khấu cải lương. Ông đã bốn lần đoạt huy chương vàng, sáu lần đoạt huy chương bạc trong các lần hội diễn sân khấu toàn quốc. Năm 2007, ông nhận danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Tòng qua đời được giới nghệ sĩ và khán giả mộ điệu cải lương xem là mất mát lớn của nền sân khấu. Bởi từ lâu, NSND Thanh Tòng được tôn vinh như “thống soái” cải lương tuồng cổ.
Nhiều nét diễn của NSND Thanh Tòng trở thành khuôn mẫu để thế hệ nghệ sĩ sau học hỏi và nối tiếp.

Thanh Tòng là hậu duệ đời thứ tư trong gia tộc đến nay có sáu đời theo nghề hát nổi tiếng miền Nam. Bà cố nội ông là chủ gánh hát bội Vĩnh Xuân, ông nội ông là bầu Thắng – kép hát bội lừng danh của đất Sài Gòn xưa, còn cha ông là nghệ sĩ Minh Tơ. Các tên tuổi như: Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc, đạo diễn Phượng Hoàng… là em cô cậu của ông. Còn lớp diễn viên trẻ như: Tú Sương, Trinh Trinh, Thanh Thảo… là cháu ông.

Từ năm ba tuổi, Thanh Tòng được gia đình hướng theo nghề hát, cho xuất hiện trên sân khấu hát bội của ông nội. Sáu tuổi, ông diễn vở San Hậu. Từ đó, ông được cha liên tục cho rèn luyện về cách diễn xuất, hóa thân nhiều dạng nhân vật, kể cả học tân nhạc, nhảy thiết hài và các kỹ năng sân khấu. 10 tuổi, Thanh Tòng đóng vai Lữ Bố trong đoàn Đồng ấu Minh Tơ. Qua nhiều vai diễn, ông được báo chí Sài Gòn thời đó gọi là “thần đồng sân khấu”.

Ở Sài Gòn ngày trước, khán giả chuộng làn sóng phim ảnh nước ngoài, làn sóng vở tuồng từ Đài Loan, Quảng Đông (Trung Quốc)… Nghệ sĩ Minh Tơ và em rể là NSND Thành Tôn (cha của nghệ sĩ Thành Lộc) thực hiện các vở cải lương lấy cảm hứng từ tuồng nước ngoài nhưng chen vào trình thức hát bội, sử dụng giai điệu cải lương. Đây là nền tảng cho bộ môn cải lương hồ quảng ra đời.

Trong ảnh là các nghệ sĩ (từ trái qua): Trọng Hữu, Thanh Thanh Tâm, Ngọc Giàu, Thanh Tòng và Lệ Thủy. Ảnh: Thanh Hiệp.

Thanh Tòng đã tích cực kế thừa thành tựu của cha. Chưa đầy 30 tuổi, ông được báo chí thời đó tiếp tục phong là ”Vua cải lương hồ quảng” với nhiều tác phẩm được khán giả yêu thích như: Phạm Lãi – Tây Thi, Võ Tòng sát tẩu…

Giới chuyên môn nhận định gia tộc “Bầu Thắng – Minh Tơ – Thanh Tòng” là có công trong việc hình thành, phát triển cải lương tuồng cổ thoát dần ảnh hưởng từ nước ngoài ở giai điệu, ca từ và nội dung. Trong đó, Thanh Tòng góp công sức lớn.

Thập niên 1980 là thời kỳ rực rỡ của Thanh Tòng qua vai trò tác giả – đạo diễn. Ông sáng tác và dàn dựng thành công nhiều tác phẩm ca ngợi tinh thần yêu nước, anh hùng dân tộc, trong đó có nhiều tuồng kinh điển như: Câu thơ yên ngựa, Tô Hiến Thành xử án, Má hồng soi kiếm bạc, Ngọn lửa Thăng Long.

Tiếp bước người cha tài năng, ở hậu trường sân khấu, Thanh Tòng thể hiện khả năng quản lý đoàn hát, viết kịch bản, soạn vở, đạo diễn các tác phẩm tuồng cổ. Sau năm 1975, ông lập một nhóm hát thường xuyên, gây quỹ xây dựng nhà truyền thống sân khấu ở số 33 Cô Bắc (quận 1, TP HCM) nhờ đó đưa nhiều diễn viên lên hàng sao của sân khấu cải lương như: Ngọc Đáng, Hữu Lợi, Tài Linh, Vũ Linh, Thanh Thanh Tâm, Thanh Hằng, Thoại Mỹ… Ông là người thầy truyền nghề hát cho nhiều thế hệ nghệ sĩ cải lương trong nước.

Đạo diễn, diễn viên Hữu Quốc chia sẻ điều anh nhớ nhất về nghệ sĩ Thanh Tòng là cách làm việc của một bậc thầy sân khấu có tác phong đàng hoàng, chỉn chu.

Hữu Quốc nhớ, khoảng 3-4 năm trước, khi biết anh có việc ra miền Bắc công tác, nghệ sĩ Thanh Tòng nhờ anh trao tiền tác quyền cho tác giả vở cải lương Câu thơ yên ngựa – ông Ngọc Văn. Số tiền không nhiều nhưng khiến tác giả rất xúc động vì tấm lòng người nghệ sĩ dành cho nhau.

“Khi dựng vở, ông luôn tôn trọng tác quyền của soạn giả. Ông kỹ tính trong việc sử dụng các điệu thức hát bội xưa. Ông là người vừa có tâm, vừa có tài, góp sức cùng nhiều nghệ sĩ gạo cội đưa nghệ thuật sân khấu cải lương lên tầm vóc riêng trong làng nghệ thuật”, Hữu Quốc nói.

NSND Thanh Tòng và NSƯT Quế Trân giao lưu văn hóa với nghệ sĩ sân khấu cổ truyền Nhật Bản.

Ở phương diện người nghệ sĩ, Thanh Tòng để lại dấu ấn và ảnh hưởng lớn cho thế hệ nghệ sĩ cải lương sau này. Ông có tài diễn xuất đa dạng với lối diễn sâu sắc, nhập vai trọn vẹn vào từng nhân vật và giọng hát mạnh mẽ, đầy nội lực.

Khán giả mộ điệu cải lương luôn ghi nhớ hình ảnh Thanh Tòng trong vai đại thần Lý Đạo Thành đầy uy dũng của vở Câu thơ yên ngựa, vai Lữ Bố với đầy đủ nét diễn duyên dáng, lẳng, hài hước trong tuồng cải lương hồ quảng Phụng Nghi Đình… Nhiều nét diễn của ông được các nghệ sĩ thế hệ sau xem là khuôn mẫu kinh điển để học tập và tiếp nối.

Năm 1984, khi tham gia đoàn nghệ sĩ mang vở Đời cô Lựu lưu diễn ở châu Âu ông được chọn đóng thế nghệ sĩ Thành Được vai Hai Thành. Theo ông, đây là vai  hay nhất trong các vai đóng thế của mình. Lần lượt, diễn xuất của Thanh Tòng trong các vở Tô Ánh Nguyệt, Áo cưới trước cổng chùa… cho thấy tầm vóc của ông không dừng ở cải lương tuồng cổ mà còn tỏa sáng ở vở mang đề tài xã hội đương đại.

Diễn xuất bền bỉ và gắn bó với sân khấu cải lương ở nhiều vai trò, Thanh Tòng chứng kiến nhiều thăng trầm của bộ môn nghệ thuật truyền thống. Ông đã bốn lần đoạt huy chương vàng, sáu lần đoạt huy chương bạc trong các lần hội diễn sân khấu toàn quốc. Năm 2007, ông nhận danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Những năm cuối đời, dù mang trong người nhiều bệnh, ông luôn đau đáu việc gầy dựng lại sức sống cho nghệ thuật cải lương. Trước khi mất, ông còn ấp ủ ý tưởng lập câu lạc bộ cải lương tuồng cổ cho lớp diễn viên trẻ từng đoạt huy chương vàng giải Trần Hữu Trang.

Nghệ sĩ Tú Sương – cháu Thanh Tòng – kể, một thời gian trước khi mất, dù bệnh, ông vẫn theo con gái – Nghệ sĩ Ưu tú Quế Trân – đi diễn, chấm thi và tham gia dàn dựng vở.

“Lần gần nhất tôi đứng chung sân khấu với cậu Tòng là trong chương trình ‘Vầng trăng cổ nhạc’. Cậu tham gia dàn dựng các tiết mục của chương trình. Trong đại gia đình nghệ thuật, cậu luôn dặn dò con cháu lúc nào cũng phải hết mình trên sân khấu. Khi tôi kết hôn, cậu buồn và khóc vì sợ tôi bỏ nghề. Cậu dành cho tôi rất nhiều lời khuyên về giữ gìn đạo nghề”, Tú Sương chia sẻ.

Niềm hạnh phúc và tự hào lớn của nghệ sĩ Thanh Tòng là con gái ông – nghệ sĩ Quế Trân – đã thành danh khi tiếp bước cha ông giữ “ngọn lửa” nghệ thuật truyền thống. Bên cạnh đó, các diễn viên nhỏ tuổi như: Hồng Quyên, Tú Quyên (con nghệ sĩ Tú Sương), bé Minh Khang (cháu nội NSND Thanh Tòng)… đang đi theo con đường nghệ thuật của gia tộc Bầu Thắng – Minh Tơ – Thanh Tòng.

Theo Dân Việt

Quế Trân suy sụp, từng muốn вỏ nghề vì NSND Thanh Tòng qua đời

“Sự ra đi của ba Thanh Tòng là một mất mát, hụt hẫng, cú sốc rất lớn với tôi” – NSƯT Quế Trân nói.

NSƯT Quế Trân sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghệ thuật, từ cụ Tổ Vĩnh Xuân, ông cố Bầu Thắng theo nghề hát bội, ông nội Minh Tơ thì chuyển từ hát bội sang hát bội pha cải lương, đến cha cô là NSND Thanh Tòng thì nổi tiếng với cải lương. Cô hoạt động từ khi còn bé và có một sự nghiệp trải dài suốt 30 năm qua.

Từ nhỏ, NSƯT Quế Trân đã được đi theo ba mẹ vào các đoàn cải lương Minh Tơ, đoàn 284, đến năm 8 tuổi thì Quế Trân có vai đầu tiên trong đoàn Đồng Ấu Bạch Long dưới sự chỉ dẫn của nghệ sĩ Bạch Long. Về sau Quế Trân còn nhận các vai diễn trong đoàn Dạ Lý Hương Tuổi Trẻ ở tuổi 17, và đến năm 18 tuổi thì nữ nghệ sĩ đoạt giải Trần Hữu Trang với vai Thiên Kiều công chúa trong vở “Trắng Hoa Mai”.

Cột mốc đáng nhớ tiếp theo là năm 1999 khi Quế Trân cùng nghệ sĩ Hữu Quốc đoạt huy chương vàng giải triển vọng Trần Hữu Trang.

Mới đây, tại chương trình Ngôi sao đương thời, Quế Trân đã bật khóc trải lòng về sự nghiệp của mình.

Không bao giờ có chuyện đi diễn xong nhậu nhẹt, cà phê

Dù là một nghệ sĩ cải lương, nhưng trong tôi có một kho bài hát rất lớn để có thể hát chung với bất cứ khán giả nào bằng ca khúc họ yêu cầu. Tôi không có kiểu nghĩ mình là ca sĩ chuyên nghiệp thì không hát chung với khán giả.

Tôi sẵn sàng hát chung với khán giả và hát bất cứ bài gì họ yêu cầu, không bỏ sót bài hát nào. Tôi cũng đầu tư nhiều vào trang phục biểu diễn. Dù là áo dài, nhưng tôi phải chọn loại áo dài nào thời trang, hiện đại.

Tôi đi hát ở rất nhiều show diễn, sân khấu khác nhau và nhận ra rằng, muốn đến gần với khán giả ở môi trường biểu diễn đó thì mình phải như thế nào. Tôi buộc phải linh hoạt hơn khi đứng trên sân khấu để thu hút được người xem.

Tôi muốn khán giả không chỉ yêu thương mình mà còn yêu thương cải lương. Tôi mong được góp một phần công sức nào đó để khán giả còn nghe, còn yêu thích làn điệu vọng cổ, cải lương.

Đằng sau sân khấu, tôi luôn có người nhà lo trang phục, đĩa hát, trang điểm cho mình. Tôi cũng nghiêm túc trong nghề nghiệp, không bao giờ có chuyện đi diễn xong nhậu nhẹt, cà phê. Tôi phải tập trung cho nghề, làm nghề trước rồi mới tới những cái còn lại.

Phòng thu rất lạnh mà tay của ba đổ mồ hôi, ướt hết vì hồi hộp, lo lắng về tôi

Cho đến giờ, tôi vẫn nhớ về vở tuồng đầu tiên mình hát với ba Thanh Tòng khi còn nhỏ. Lúc đó, ba tôi hồi hộp lắm, không biết tôi có làm nổi không vì vai tôi đóng khó vô cùng, vừa có ca vừa có diễn, lại đòi hỏi vũ đạo nữa.

Đầu tiên, ba đưa tôi đi học vũ đạo của chú út Thanh Sơn rồi kêu tôi trả bài, làm được mới cho diễn. Thấy tôi làm được, ba mới cho vào phòng thu để thu âm phần tiếng trước khi diễn.

Tôi nhỏ quá, không với tới micro, liền lập tức đưa tay kéo mạnh micro xuống cho vừa tầm. Ba thoại tới đâu tôi thoại tới đó, ba hát gì tôi đối đáp lại luôn.

Trong phòng thu rất lạnh mà tay của ba đổ mồ hôi, ướt hết vì hồi hộp, lo lắng về tôi. Tới lúc quay xong vở tuồng, ba tôi mừng lắm vì nghĩ rằng tôi đã có thể nối nghiệp của ba. Đó là điều ba tôi rất mong ước.

Dù ba không bao giờ nói ra hay ép buộc tôi phải theo nghề, nhưng trong thâm tâm ba luôn mong muốn tôi có thể đi hát như ba.

Cũng từ đó, tôi yêu thích cải lương vì thấy đi hát vui quá, được khán giả vỗ tay nhiều, tràn ngập tiếng cười, khiến ba mình hạnh phúc. Vì vậy, tuần nào tôi cũng chỉ mong đến ngày lễ, ngày nghỉ để được đi hát với ba.

Tuy rất mong tôi đi hát, nhưng ba Thanh Tòng rất nghiêm, luôn nói rằng tôi phải học thật giỏi mới được đi hát. Vì vậy nên tôi luôn cố gắng làm tròn được cả hai bổn phận cho ba vui.

Sự ra đi của ba là một mất mát, hụt hẫng, cú sốc rất lớn với tôi

Học xong, tôi bắt đầu đi hát đều đặn, tới năm 2016 thì tạm ngưng. Năm 2016 là năm không thể nào quên được trong cuộc đời tôi.

Ngay trong đêm chung kết cuộc thi Chuông vàng vọng cổ mà tôi ngồi làm giám khảo, ba tôi đã ra đi.

Sự ra đi của ba là một mất mát, hụt hẫng, cú sốc rất lớn với tôi. Có một thời gian, tôi giam mình trong nhà, không muốn ra ngoài và cũng không muốn đi hát nữa. Trong thời gian đó, mẹ tôi cố gắng động viên tôi đi hát để làm ba vui, còn nối nghề của ba.

Bên cạnh đó, các cô chú đồng nghiệp và khán giả cũng yêu thương nhắc nhở, tôi lại nhận được thêm nhiều vai diễn hay. Chính vì thế, tôi đã được vực dậy và cố gắng quay lại với sân khấu.

Nhờ những vai diễn mới đó, tôi cảm thấy được học hỏi, trưởng thành, chững chạc hơn. Tôi cảm giác có chút tâm linh, giống như ba đang dẫn đường cho tôi có được những cơ hội tốt đó.

Tôi còn được làm việc với các cô chú trong gia đình mình. Chẳng hạn, vì Lê Phương bị ốm nên tôi được đóng thế Kiều Nguyệt Nga trong vở diễn của chú Thành Lộc. Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại được diễn chung với chú Thành Lộc như vậy và được học nghề từ chú. Chú Thành Lộc cũng chỉ cho tôi rất tỉ mỉ về nghề diễn.