Gặp ‟ông hoàng biệt danh” của sân khấu cải lương

0
111

Sân khấu cải lương miền Nam từ khi mới ra đời đã chứng kiến sự xuất hiện của một thế hệ vàng với những “ông vua bà hoàng” ngự trị trên tột đỉnh vinh quang của nghệ thuật.

Một số người đã về với cát bụi, người còn trên thế gian thì cũng đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy”; nhưng những cống hiến và danh tiếng của họ luôn có một giá trị mà các thế hệ hậu sinh hướng tới. Nhưng xem ra, thời kỳ vàng son ấy chỉ gắn liền với những con người “thượng thặng” nhất định. Vua vọng cổ Út Trà Ôn, vua xàng xê Minh Chí, nữ hoàng sân khấu Thanh Nga… tất cả đã về với tổ nghiệp, chỉ còn một “Vua Tao Đàn” đứng cô đơn và quy ẩn vì sân khấu cải lương (SKCL) đã hết thời hoàng kim…

“Cặp sóng thần” Thanh Hải – Ngọc Hương tái ngộ khán giả vở “Hán Đế biệt Chiêu Quân” năm 2006

“Cặp sóng thần” Thanh Hải – Ngọc Hương tái ngộ khán giả vở “Hán Đế biệt Chiêu Quân” năm 2006

Phải là một nghệ sĩ tài hoa, tầm vóc và “chịu” lang bạt lắm Thanh Hải mới được giới ký giả và người mộ điệu phong tặng lên hàng nghệ sĩ có nhiều biệt danh nhất: “Vua Tao Đàn”, “Kép triệu phú đầu tiên” và “Anh hùng lưu diễn”…

Vô tình nghe được “Đệ nhất danh ca”

Hỏi chuyện nghệ sĩ nổi tiếng thường đa tình, ông cười lém lỉnh nhìn bà xã ngồi kế bên: “Đi diễn xa ngủ khách sạn có người gác cũng không yên. Khán giả, nhất là nữ sinh trung học đệ nhất cấp đến xin chữ ký và xin hình từ sáng đến chiều. Mỗi lần đi diễn phải mang theo cả ngàn tấm hình và ký tặng sẵn trên đó…”.

Dù tuổi đã gần 80 nhưng nghệ sĩ Thanh Hải vẫn còn rất phong độ. Trong lúc trò chuyện, ông thường ngẫu hứng “nhả” vài câu vọng cổ hay một số trích đoạn cải lương làm nên tên tuổi một thời cho khách nghe. Giọng ông vẫn ngân vang trầm bổng như chuông đồng. Cái chất giọng ấy đã khiến hàng triệu khán thính giả say mê qua từng năm tháng…

Nghệ sĩ Thanh Hải tên thật Hồ Văn Xia, cầm tinh con hổ – 1938. Cha hoạt động cách mạng và bị địch bắt rồi giết mất xác khi ông lên 8. Thanh Hải đi học và nhờ giỏi tiếng Pháp nên được nhận vào làm nhân viên phòng thí nghiệm của đồn điền cao su Bến Cát. Mất cha, xa mẹ, những đêm khuya vắng giữa rừng cao su bạt ngàn, ông lấy radio bầu bạn. Vô tình nghe được “Đệ nhất danh ca” Út Trà Ôn hát bản Sầu vương biên ải của soạn giả Thái Thụy Phong đã gieo vào lòng ông một nỗi say mê, thần tượng. Ông nhờ người quen tìm mua giúp mấy tập bài ca và tập hát theo ông “Vua vọng cổ”…

Sau 7 năm, ông thôi việc và lang bạc đây đó, bị bắt quân dịch rồi trốn trại về Sài Gòn nương náu tìm việc. May mắn gặp được soạn giả Điền Long giới thiệu ông vào gánh hát Hữu Chí. Ở đây, Thanh Hải phụ soát vé và tham gia vài vai nhỏ, thời gian còn lại ngồi bên cánh gà xem đàn anh đàn chị hát. Không lâu, ông bỏ đoàn, lấy nghệ danh Thanh Hải gia nhập gánh Ánh Sáng của bầu Năm Tập.

Vợ chồng “Vua Tao Đàn” Thanh Hải – Mỹ Linh

Vợ chồng “Vua Tao Đàn” Thanh Hải – Mỹ Linh

Ban đầu, Thanh Hải đóng những vai lão nhưng với chất giọng thiên phú, vóc dáng ăn hình nên được nhiều người chú ý. Lúc này, kép chánh đoàn có Tư Long, Paul Thuận đã luống tuổi, soạn giả Công Quận bằng con mắt nhà nghề đã đề nghị bầu Tập cho Thanh Hải thay đàn anh đảm trách kép chánh. Công Quận viết liên tiếp ba vở tuồng “đo ni đóng giày” cho Thanh Hải hát chính: Trăng nước Hà Tiên, Đường lên núi Tây Ninh, và Chiếc lá vàng. Các xuất diễn luôn cháy vé, bầu Năm Tập “ăn nên làm ra” và vững tâm mang quân đi “thi thố” với các “đại bang” ở Sài Gòn.

Thời đó, các đoàn nhỏ ở tỉnh lẻ nào dám chen chân vào diễn ở các rạp. Vậy mà nhờ cái tên Thanh Hải, đoàn Ánh Sáng vươn ra biển lớn. Thanh Hải lọt vào tầm ngắm của các đại bang. Liên tiếp 2 năm 1960-1961, hết Kim Hoàng – Như Mai ký hợp đồng với tài danh Thanh Hải đến bầu Ba Bản của đoàn Thủ Đô nhảy vào. Đoàn Thủ Đô quy tụ những đại thụ như: NSND “quái kiệt” Ba Vân, Út Trà Ôn, Hoàng Giang, Ngọc Hương, Tấn Tài, Thanh Hoa… Nhờ “quái kiệt” Ba Vân rèn giũa, đồng thời học hỏi bậc thầy Út Trà Ôn mà khả năng diễn xuất và ca ngâm của Thanh Hải như “hổ mọc thêm cánh” đủ khả năng vùng vẫy với thiên hạ.

Rồi Út Trà Ôn và Hoàng Giang lập gánh Thống Nhất, Thanh Hải đương nhiên một mình một cõi. Hàng loạt các vở diễn được soạn giả tài hoa Thu An viết cho Thanh hải làm kép chánh để đời: Đào Cam Mộc trong vở Tiếng trống sang canh, Châu Vũ Đào vở Chiếc lá mùa thu, Kim Bình trong Sầu quan ải… Ngoài thu trên hãng dĩa Hoành Sơn của bầu Ba Bản bán rất chạy, Thanh Hải còn được nhiều hãng dĩa tranh nhau mời mọc…

Người đầu tiên đưa “Tao Đàn” lên SKCL

Nghệ sĩ Thanh Hải có giọng “đồng” khỏe khoắn, âm vực cao rộng, trầm bổng du dương nên khi hát nghe rất sâu lắng. Nếu như “Vua vọng cổ” Út Trà Ôn có lối ca sắp chữ, chẻ nhịp không ai sánh bằng thì Thanh Hải lại ít chẻ nhịp mà rong chữ, đong đưa nhịp rất độc đáo. Nếu ông vua vọng cổ có giọng ca sang trọng, chững chạc thì Thanh Hải lại man mác trữ tình, thổn thức trẻ trung… Một thầy một trò có cách hát gần gũi, tương thích nhau, Thanh Hải tự nhủ mình không thể làm cái bóng của ông “Vua vọng cổ” mãi.

“Kép triệu phú” Thanh Hải và NSƯT Lệ Thủy trong vở Khi trời lạnh sương khuya

“Kép triệu phú” Thanh Hải và NSƯT Lệ Thủy trong vở Khi trời lạnh sương khuya

Ông tâm sự: “Một lần, sau khi nghe cô Hồ Điệp ngâm thơ trong chương trình “Ngâm thơ Tao Đàn” do thi sĩ Đinh Hùng phụ trách trên Đài phát thanh Sài Gòn sau năm 1954 mà bác sáng tạo nên lối hát diễn ngâm mới mang hơi thở Tao Đàn”. Nó được ông áp dụng diễn đầu tiên trong vở Chiếc áo mùa thu của soạn giả Thu An (đoàn Thủ Đô) vào năm 1962.

Sự kết hợp nhấn nhá âm điệu và làn hơi “Tao Đàn” quá mới lạ đã khiến khán giả và người trong giới ngỡ ngàng thán phục. Kể từ đó Thanh Hải luôn vận dụng lối ca ngâm “Tao Đàn” do mình sáng tạo trên sân khấu. Ông tâm đắc: “Cứ mỗi lần ngâm Tao Đàn hay xuống câu vọng cổ, khán giả vỗ tay rần rần làm mình khoái trong người quá trời”.

Bằng sự sáng tạo trong cách ca ngâm, Thanh Hải đường hoàng đứng trên đài vinh quang cùng với những “ông vua bà hoàng” của SKCL. Cho tới nay, chưa một nghệ sĩ nào có thể ca được phong cách Tao Đàn như Thanh Hải. Đó vừa là sự khẳng định “thương hiệu” của một “kỳ tài” Thanh Hải vừa là nốt trầm buồn cho hậu thế khi ông vẫn chưa có truyền nhân.

“Anh hùng lưu diễn” và trở thành “Kép triệu phú” đầu tiên

Năm 1962, Thanh Hải sang làm kép chánh cho đoàn Kim Chưởng, một đại bang mệnh danh “Nhất Chưởng nhì Long”. Lúc bấy giờ, ở đâu xuất hiện đoàn Kim Chưởng với “cặp sóng thần” Thanh Hải – Ngọc Hương là các đoàn khác phải “cuốn rạp” đi nơi khác diễn. Chính điều đó mà Thanh Hải trở thành một “Anh hùng lưu diễn” trong mắt ký giả và người mộ điệu!

Những vở “kinh điển” của đôi “thương hiệu vàng” này cho đến nay không một đôi nghệ sĩ nào có thể sánh bằng được: Hán Đế biệt Chiêu Quân, Nửa bản tình ca, Nắng chiều trên sông Dịch, Cô gái sông Đà, Thuyền ra cửa biển, Hai chiều ly biệt, Tiếng trống sang canh… Đó cũng chính là những vở mà Thanh Hải vận dụng phong cách ca ngâm tuyệt đỉnh: Tao Đàn lên SKCL. Có được sự thành công rực rỡ này, Thanh Hải luôn tâm niệm: “Mang ơn bầu Kim Chưởng rất nhiều”…

Nhưng vì thời cuộc, Thanh Hải rời Kim Chưởng để rồi một sự kiện làm chấn động giới SKCL: bản hợp đồng trị giá kỷ lục 1,2 triệu đồng mà Thanh Hải ký với đoàn Kim Chung vào năm 1963. Trong khi những bậc tiền bối sáng giá lúc bấy giờ: Út Trà Ôn, Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường… thì hợp đồng cũng không quá giới hạn 800.000 đồng. Và Thanh Hải trở thành “Kép triệu phú” đầu tiên của SKCL Việt Nam.

Ông được bầu Long điều đi hát từ Kim Chung 1 đến Kim Chung 6 để “giải nguy” khi các đoàn này ế khách. Ở đây, Thanh Hải hát cùng những tài danh: Út Bạch Lan, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Út Hậu, hề Văn Hường… Và bằng tài hoa, Thanh Hải trở thành diễn viên xuất sắc của giải Thanh Tâm năm 1967 cùng 3 diễn viên xuất chúng: Thanh Nga, Thành Được, Ngọc Giàu.

Năm 1970, ông cùng Văn Hường đứng ra lập gánh hát riêng, nhưng chỉ sau 2 năm thì rã gánh vì chiến tranh ly loạn. Thanh Hải sang đoàn Thái Dương hát chung với những tên tuổi vang bóng: Thành Được, Phượng Liên, Mỹ Châu, hề Văn Chung… Rồi sang đoàn Quê Hương, Thống Nhất (Tây Ninh) và gần 10 năm đoàn Văn Công TP.HCM. Bỗng năm 1988, Thanh Hải giải nghệ. Ông giải thích: “Biết dừng lại đúng lúc thì giữ lại được một hình ảnh đẹp trong lòng khán giả và một phần cũng vì nhận thấy thời cuộc thay đổi mà thôi…”.

Và dù “quy ẩn” nhưng Thanh Hải vẫn thường xuyên được mời tham gia các chương trình văn nghệ từ thiện trong và ngoài nước. Mỗi lần xuất hiện, khán giả lại cổ vũ nồng nhiệt khi thấy một Thanh Hải thuở nào nhưng già dặn hơn xưa. Điều đó chứng tỏ khán giả vẫn còn nhớ đến ông… một vị “Vua Tao Đàn”…

Nghệ sĩ ưu tú Hữu Châu: Nửa đời mất mát

Cuộc đời Hữu Châu thật nhiều những mất mát. Vậy mà anh vẫn nói, vẫn cười, thong dong gánh đời, gánh nghiệp trên vai.

Giờ anh không còn sợ, không còn khóc, cũng khó lòng mà buồn hơn được nữa. Và diễn là để khóc cười cho chính bản thân.

Anh ngồi đốt thuốc, kể chuyện vui buồn nhẹ tênh như khói thuốc tan nhanh trong buổi chiều nhiều gió, mơ hồ, mỏng mảnh mà nghe xót đến váng vất đầu.

Đường đời trúc trắc

Hữu Châu sinh ra trong một đại gia đình nổi tiếng ở đất Sài Gòn. Bà bầu Thơ, người được mệnh danh là “bầu của các ông bà bầu đoàn hát cải lương” chính là bà nội ruột của anh. Bà bầu Thơ còn rất nổi tiếng với câu nói: “Trong nghề này, đứa nào giỏi thì được, không thì thôi. Lập gánh không phải là để lăng xê con cháu”. Và thực tế, thế hệ con cháu của bà bầu Thơ như cố nghệ sĩ Thanh Nga, NSƯT Bảo Quốc và cả Hữu Châu đều từ thực tài mà đi lên và trở thành những cây đại thụ của nghệ thuật sân khấu nước nhà.

Hữu Châu sinh năm 1966, là con của nghệ sĩ Hữu Thìn và nữ nghệ sĩ Thanh Lệ. Sau giải phóng, đại gia đình bà bầu Thơ xảy ra biến cố, sự nghiệp, tiền của tiêu tan khiến cuộc sống của Hữu Châu vô cùng khốn khó. Vừa đi học, anh vừa phải làm thêm đủ thứ nghề, nào là cưa cây, bơm xe, mở quầy báo vẫn không đủ để vun vén cho gia đình. Năm 1985 Hữu Châu tốt nghiệp Trường Nghệ thuật sân khấu 2. Ra nghề, được đi diễn những tưởng cảnh nhà sẽ đỡ chật vật hơn, nào ngờ túng thiếu vẫn hoàn túng thiếu.

Bởi thời điểm đó, sân khấu kịch của Việt Nam vẫn chưa khởi sắc, chuyện kiếm được một vị trí hay vai diễn tốt trong một đơn vị hoạt động nghệ thuật đối với một sinh viên mới ra trường như Hữu Châu thật sự là một điều rất khó khăn. Nhưng trời không phụ lòng người, một thời gian sau, Hữu Châu gia nhập đoàn kịch nói Kim Cương, đây cũng là nơi anh thực sự được tỏa sáng khi vai thầy bói trong vở Hoàng tử và con gái lão chăn cừu đã để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc với khán giả. Sau đó, Hữu Châu tiếp tục chinh phục người hâm mộ bằng những vai diễn trong vở Lá sầu riêng, Nhân danh công lý, Người tình trễ xe…

Mày mò được chút công danh, nhưng cái khó, cái nghèo cứ đeo bám gia đình anh dai dẳng. Hữu Châu kể lại, thuở ấy, hầu như cả ngày anh chỉ được ăn một bữa, mà cũng hiếm khi có cơm, thường là tô cháo đậu xanh ăn với đường tán. Có lần đói quá, bủn rủn tay chân, Hữu Châu xỉu ngay trên sân khấu. Nghệ sĩ Mai Sơn, Thanh Tùng đỡ vào trong, tỉnh dậy đã thấy trên tay có bịch sữa ai đó nhét sẵn vào. Rồi đến đợt gạo thì có, mà thịt cá thì không.

Hôm nào cũng vậy, Hữu Châu cùng mẹ thay nhau dậy sớm, đến tiệm mì Trường Thạnh xin tóp mỡ người ta bỏ đi, rồi đem về kho lên ăn với cơm. Lắm lúc, Hữu Châu tưởng rằng mình không thể nào trụ với nghề được nữa. Nhưng nỗi khát khao sân khấu cứ chảy âm ỉ trong anh, bởi bục gỗ này, màn nhung kia từ lâu đã là tim, là máu của anh. Dứt ra thì anh vẫn sống, nhưng sống mòn mỏi, sống mà như không sống, vì như Hữu Châu nói: “Tôi mà nghỉ diễn rồi hỏi đời còn gì vui nữa không”.

Vào khoảng thập niên 90, sân khấu hài miền Nam bắt đầu phát triển mạnh, Hữu Châu cũng nung nấu ý định thử sức với thể loại này. Sau, Hữu Châu gia nhập nhóm hài Bảo Quốc, rồi tự mình lập nhóm hài với Hữu Nghĩa. Từ một nghệ sĩ trẻ mới nổi, hài của Hữu Châu đã trở thành một bản sắc rất riêng, và tên của anh bắt đầu trở thành một thứ “bảo chứng phòng vé”.

Cái duyên hài của Hữu Châu không ở chỗ hoạt náo, nhanh nhảu thường thấy mà nó cứ chậm rãi, cứ nhẩn nha như rót vào tai khán giả. Để rồi, người ta không tài nào nhịn cười trước sự khéo léo trong từng câu từng chữ châm biếm, trước cái nheo mắt, vung tay đúng lúc, đúng chỗ của Hữu Châu. Và cứ thế, hình ảnh Hữu Châu đi vào lòng khán giả, không ồn ào, rầm rộ, nhưng khắc rất sâu và buộc người ta phải nhớ rất lâu.

Nổi tiếng với hài kịch nhưng Hữu Châu vẫn mặn mà hơn với thể loại chính kịch, anh từng tâm sự: “Dù đi tấu hài kiếm được đủ tiền nuôi mẹ nuôi em nhưng tôi vẫn mong được diễn những vai có chiều sâu tư tưởng”. Và vai Nguyễn Trãi trong Bí mật vườn Lệ Chi đã đưa tên tuổi Hữu Châu lên tầm đại thụ. Vai Nguyễn Trãi không chỉ là một vai trong một vở, mà là một vai của một đời người.

Nguyễn Trãi của Hữu Châu là ánh mắt tinh anh nhưng đầy u ẩn, là lời nói, cử chỉ thanh tao nhưng đau đáu ưu tư. Cứ như bao nhiêu tinh hoa, bao nhiêu tâm huyết của cả một đời Hữu Châu dành trọn hết cho nhân vật, không cần giữ riêng cho mình một chút gì. Thế nên, dù đã trở thành quá vãng nhưng với khán giả và cả Hữu Châu thì, Nguyễn Trãi trong Bí mật vườn Lệ Chi luôn là vai diễn của cả một đời người.

Mất mát đeo mang

Đường đời trúc trắc, mất mát còn như một thứ nghiệp chướng bám rịt lấy gia đình của Hữu Châu. Cứ như tai ương ở quanh quẩn trên cây, bên lề đường rồi một chiều cả gió vô tình thổi ập tới nhà anh. Mất quá nhiều nên phập phồng cũng nhiều, ám ảnh vương vít vào cơn ngủ, mở mắt ra còn thấy bất trắc lẽo đẽo theo.

Cái chết đầy oan khiên của nghệ sĩ Thanh Nga, cô ruột Hữu Châu như báo hiệu cho chuỗi định mệnh nghiệt ngã ám vào vận số của cả gia đình. Một năm sau, anh trai Hữu Châu là nghệ sĩ múa Thanh Hải đột ngột qua đời vì chứng xuất huyết bao tử trên đường lưu diễn. Đầu còn trắng tang anh, thì đến lượt cha Hữu Châu là nghệ sĩ Hữu Thìn lại ra đi bất đắc kỳ tử. Mẹ anh không chịu nổi hai cú sốc quá lớn nên sức khỏe bị ảnh hưởng trầm trọng. Mới 15 tuổi đầu, Hữu Châu đã phải học cách làm quen với nỗi đau mất mát. Nói thì dễ, nhưng có ai đủ can đảm để tự nhận mình đã chai lì với nỗi sinh ly tử biệt đâu. Và Hữu Châu cũng thế.

Rồi bà bầu Thơ, bà nội của Hữu Châu cũng đột ngột ra đi, không lời trăng trối. Hữu Châu kể: “Bà nội là người mạnh mẽ. Ông nội, cô Thanh Nga, ba tôi, anh tôi, những người thân thương nhất của bà cứ thế ra đi đột ngột mà bà không hề khóc. Còn tôi, hay vùi đầu vào bụng bà khóc cho đã thì thôi. Mỗi lần như thế, bà nội thường vuốt tóc tôi rồi nói: “Mình là trụ cột gia đình thì cố để mà không khóc, vì ai cũng khóc thì ai biết dựa vào ai để nguôi ngoai”. Rồi đến lượt bà nội cũng về với đất, thì Hữu Châu đã không còn khóc nữa.

Nhưng mà, “nghiệp chướng” vẫn cứ đeo mang. Khi mọi thứ với Hữu Châu dường như đã vào guồng yên ổn thì mất mát một lần nữa như con thú dữ vồ ập lấy tâm hồn đã chằng chịt vết thương của anh. Nghệ sĩ Hữu Lộc, em trai ruột của Hữu Châu lại đột ngột mất đi khi sự nghiệp đương thời rực rỡ.

Giờ nhắc lại, Hữu Châu kể rất chậm rãi, từ từ cứ như anh sợ vội quá sẽ lỡ đánh rơi một giọt nước mắt đã ngập sẵn trên mi. Anh nói đơn giản thôi, lúc đó chỉ thấy tim đau, và đầu thì trống rỗng. Khi bác sĩ bảo phải phẫu thuật hộp sọ cho Hữu Lộc để cầu sự sống, Hữu Châu đã thấy tim mình như nghẹt thở. Bác sĩ nói với Hữu Châu nếu Hữu Lộc sau phẫu thuật mà không sốt có lẽ sẽ qua khỏi nhưng đêm ấy, Hữu Lộc sốt rất cao…

Hữu Châu gọi đó là nghiệp chướng, nhưng rồi anh ngộ ra, lại coi như là số phận. Bởi theo anh, có một vài người quãng đời ở dương thế chỉ bao nhiêu đó thôi, họ sống hết thời gian rồi lại về. Đời là vô thường, con tạo luôn luôn xoay vần không ngưng nghỉ, biển xanh còn hóa nương dâu huống chi là phần số của một con người. Hữu Châu bảo rằng, bây giờ, không còn điều gì khiến anh đau được nữa. Anh cũng đã hết buồn, và thôi nghĩ về những mất mát chực chờ.

Nắng chiều đỏ úa một góc giảng đường Trường Sân khấu (nơi Hữu Châu đang ngày ngày say sưa truyền lửa, truyền nghề), nắng hắt, Hữu Châu nheo nheo mắt rồi chợt cười, nụ cười nhẹ thôi, mà sao nghe đắng đót.

Anh rít một hơi thuốc dài, khói thuốc váng vất tan nhanh, rồi nói tiếp, giọng nhẹ tênh: “Tôi không khóc được nữa, nhiều người thấy thế chắc đâm ra ái ngại hay khuyên rằng: “Khóc cho nhẹ đi”. Mỗi lúc như thế tự nhiên tôi lại nhớ lời bà nội, “khóc rồi, ai dựa vào ai để nguôi ngoai”.

Ông trời cho tôi nghiệp diễn, lên sân khấu tôi được khóc, được cười, vậy là quá đủ. Tận cùng hạnh phúc là giọt nước mắt, và tận cùng của nỗi đau lại là nụ cười. Đến cách biểu hiện hai phạm trù đối lập là hạnh phúc và khổ đau mà con người còn nhập nhằng đến thế thì tôi… cần chi phải biết là đang khóc cho người hay khóc cho mình”. Nói rồi, Hữu Châu quay đi, giấu vội giọt nước mắt nặng trịch sắp lăn tròn trên má. Là anh khóc cho người hay khóc cho mình đây?…

Nguồn: dantri