Home Giải trí Cuộc đời Hoàng hậu Nam Phương – Cuối đời cô quạnh ra...

Cuộc đời Hoàng hậu Nam Phương – Cuối đời cô quạnh ra đi không một bóng người thân bên cạnh

0
437

Hoàng hậu Nam Phương tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thị Lan. Bà sinh năm 1914 tại Sài Gòn, con ông Nguyễn Hữu Hào và bà Lê Thị Bính và là cháu ngoại ông huyện Sĩ ở Nam Kỳ, một trong bốn người giàu nhất nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20. Gia đình bà theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp.

Hoàng hậu Nam Phương trong trang phục truyền thống.

Năm 1926, Nguyễn Hữu Thị Lan, khi đó 12 tuổi, được gia đình cho sang Pháp học tại trường Couvent des Oiseaux, một trường nữ danh tiếng ở Paris do các nữ tu điều hành. Tháng 9/1932, sau khi thi đậu tú tài toàn phần, bà về nước trên con tàu D’Artagnan của hãng Messagerie Maritime.

Về Việt Nam được gần một năm, khi vua Bảo Đại lên nghỉ mát tại Đà Lạt, trong một buổi dạ tiệc tại khách sạn La Palace do Toàn quyền Đông Dương Pasquier và viên Đốc lý thành phố Đà Lạt Darle sắp đặt, Nguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại đã gặp nhau.

Hoàng đế trẻ bị người con gái mặc áo dài lụa màu thiên thanh, gương mặt thanh thoát không trang điểm cuốn hút. Bảo Đại say mê bà. Họ đã gặp lại nhau nhiều lần sau buổi hội ngộ đầu tiên ấy. Bảo Đại sau này viết lại trong hồi ký rằng: “Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê”.
Nam Phương Hoàng hậu thời còn học ở Pháp.

Ðám cưới của vua Bảo Đại với nữ lưu tràn trề hương sắc đã diễn ra tại Huế ngày 20/3/1934 khi chú rể 21 tuổi, cô dâu 19 tuổi. Ngay ngày hôm đó, Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong làm Hoàng hậu với danh hiệu Nam Phương, có nghĩa là “Người con gái phương Nam”.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhà Nguyễn có một phụ nữ xuất hiện giữa triều đình. Hoàng hậu Nam Phương mặc áo thụng, chân đi hài mũi cong, đầu đội vương miện đính 9 con phượng bằng vàng thật và nhiều ngọc châu óng ánh. Bà đi đến giữa tấm thảm, cả triều đình vái chào.

Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu ngay sau khi cưới là một biệt lệ đối với các bà vợ vua triều Nguyễn. Mười hai đời vua Nguyễn trước kia, vợ vua chỉ được phong tước Vương phi, đến khi cнếт mới được truy phong Hoàng hậụ. Vua Bảo Đại được tiếp thụ văи hoá Phương Tây, cũng bãi bỏ chế độ cung tần mỹ nữ ở hoàng cung, theo lối sống gia đình truyền thống của đạo Thiên chúa một vợ một chồng.

Sau lễ cưới, vua Bảo Đại cùng Hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung thuộc khu vực cấm thành. Điện này xây cất từ thời vua Khải Định nhưng được sửa chữa và tân trang các tiện nghi phương Tây vào đầu triều vua Bảo Đại.

Nhan sắc chim sa cá lặn của Hoàng hậu Nam Phương.

Những ngày tháng sau khi kết hôn, Bảo Đại rất yêu thương bà. Lúc chưa bận bịu con cái, Bảo Đại đi đâu cũng sóng bước cùng Nam Phương, nhiều khi ông còn tự tay lái xe đưa bà đi thăm thú các danh lam thắng cảnh của đất nước.

Hoàng hậu Nam Phương và vua Bảo Đại sau đó có với nhau 5 người con, 2 hoàng тử và 3 công chúa. Thường ngày, ngoài việc chăm sóc dạy dỗ con cái, thỉnh thoảng Hoàng hậu Nam Phương cùng các quan bộ Lễ bàn thảo các lễ lạc trong cung đình, lo việc cúng giỗ và rất chu toàn bổn phận làm dâu.

Với tư cách Hoàng hậu, Nam Phương đã giúp vua Bảo Đại trong các hoạt động ngoại giao, đón tiếp quốc khách, giao thiệp với Pháp. Những lần Bảo Đại đón tiếp khách quốc tế trọng thể đều có sự hiện diện của Hoàng hậu Nam Phương. Đây là một điều hiếm có vào thời đó.

Nam Phương còn là vị đệ nhất phu nhân Việt Nam đầu tiên được giao phụ trách các công việc xã hội, làm công tác khuyến học, khen thưởng học sinh giỏi, giúp đỡ người nghèo, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội.

Theo lời nữ sĩ Đạm Phương sau này kể lại thì có lần Hoàng hậu Nam Phương bảo bà làm đơn xιɴ phép Bộ Giáo dục đem môn Nữ công gia chánh vào học đường. Hàng năm bà đều tham dự các buổi phát giải thưởng cho các học sinh giỏi tổ chức tại trung tâm Accueil gần nhà dòng Cứu Thế.

Hoàng hậu Nam Phương với Hoàng тử Bảo Long và Công chúa Phương Mai.

Hưởng ứng cách мạиɢ tháng Tám năm 1945, trong một buổi lễ long trọng ở Ngọ Môn, vào ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại thoái vị và trao ấn kiếm cho ông Trần Huy Liệu – đại diện Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tháng 9/1945, Bảo Đại ra Hà Nội nhận chức cố vấn tối cao trong cнíɴн phủ. Hoàng hậu Nam Phương và 5 người con rời Đại Nội về sống ở cung An Định bên bờ sông An Cựu. Hoàng hậu được mời tham gia nhiều hoạt động ủng hộ Cách мạиɢ như tham gia “Tuần lễ vàng” quyên góp vàng bạc làm cнιếɴ phí chuẩn bị đương đầu với sự trở lại Việt Nam của thực dân Pháp.

Lúc này, ông cố vấn Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại lao vào con đường ăи chơi tráng tác với nhiều ngườiphụ nữkhác, không còn quan tâm mấy tới người vợ hiền thục nơi kinh đô Huế.

Tháng 12/1946, tình hình cнíɴн trị và quân sự giữa Việt và Pháp rất căиg thẳng, cнιếɴ тʀᴀɴн tới gần. Cựu Hoàng hậu Nam Phương cùng 5 con sống trong cung An Định trong khi mẹ chồng cũng đã tản cư, cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng.

Năm 1947, bà quyết định đưa các con sang Pháp. Thời gian đầu, mẹ con cựu Hoàng hậu sống ở lâu đài Thorenc tại Cannes. Bà gửi các con vào trường trung học Couvent des Oiseaux, nơi bà từng học thời con gái.

Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc con cái, bà thường đọc sách báo hoặc chăm sóc hoa lá trong vườn, buổi tối thì chơi piano cho các con nghe. Những ngày lễ, mấy mẹ con cùng ra phố xem phim hoặc mua sắm.

Về sau, Nam Phương rời Cannes, dọn về ở lâu đài Domain de la Perche ở vùng quê Chabrignac, cách Paris chừng 400 – 500km. Trang trại lớn với 160 mẫu đất, một đàn bò gần trăm con. Lâu đài cách nhà dân khá xa, hàng xóm ít qua lại.

Hai con tem có in hình Nam Phương Hoàng hậu.

Trong những năm sống ở Charbrignac, Nam Phương rất ít ra ngoài giao lưu. Thi thoảng lắm bà mới lên Paris thăm các con, còn các hoàng тử, công chúa cũng chỉ về thăm mẹ ít ngày trong những dịp hè. Bảo Đại thì rất hiếm khi đến đây, một năm chỉ ghé qua một, hai lần rồi lại đi ngay. Lần về lâu nhất của ông là đám cưới của con gái Phương Liên cũng chỉ là vài ngày.

Căи вệин tim của Nam Phương ngày càng nặng. Vào ngày 14/9/1963, sau khi ra ngoài chơi, bà đi tắm và sau đó cảm thấy đau cổ, sốt. Bác sĩ đến khám, cho biết bà chỉ viêm họng nhẹ. Rồi cơn khó thở mỗi lúc một tăиg, bà đã qua đời khi bác sĩ chưa đến kịp. Trong giờ phút lâm chung, ngoài những người giúp việc, bên cạnh bà không có một người thân nào. Đám tang cựu Hoàng hậu Nam Phương diễn ra vào ngày 15/9/1963 cũng không có mặt cựu hoàng Bảo Đại.

Mộ của Nam Phương hiện nay vẫn nằm tại nghĩa trang Công giáo tại Chabrignac, trên bia có dòng chữ tiếng Pháp, dịch là: “Nơi đây an nghỉ của bà Hoàng hậu Việt Nam – bà Jeanne – Mariette Nguyễn Hữu Hào, 4/12/1914 – 15/9/1963), mặt sau ghi dòng chữ Hán: “Đại Nam Nam Phương Hoàng hậu chi mộ”.

‘Kép độc’ NSƯT Trường Sơn chỉ mong được khán giả ghét

Nhắc đến NSƯT Trường Sơn người ta sẽ nhớ đến những vai diễn độc, lạ, dị. Những vai diễn ấy đã giúp ông trở thành gương mặt ấn tượng của sân khấu và đến nay, người ta vẫn nhắc đến cái tên Trường Sơn khi nói đến các kép độc.

Ngôi nhà của NSƯT Trường Sơn nằm gần cuối con hẻm Đình Cầu Quan (nay là đình Thái Hưng) Q.1. Đây là ngôi nhà cuối cùng của gia tộc bầu Thắng – Minh Tơ còn hiện hữu ở nơi đã từng lưu dấu thời vàng son của gia tộc từ cách đây gần một trăm năm.

Ngày tôi đến nhà NSƯT Trường Sơn cũng là ngày diễn ra Lễ Kỳ Yên ở đình Cầu Quan. Ông nói gần 10 rồi lễ  Kỳ Yên ở Đình Cầu Quan mới nhộn nhịp, đông vui như vậy. Gần 10 nay, sau phần nghi lễ, các NS mới lại cùng nhau ca diễn để phụng cúng đình và cùng ôn lại những ký ức không bao giờ quên của cả gia tộc Bầu Thắng – Minh Tơ ở ngôi đình này.

'Kep doc' NSUT Truong Son chi mong duoc khan gia ghetNSƯT Trường Sơn thời trẻ

Lâu lắm rồi nơi đây mới lại rộn rã tiếng trống, tiếng đờn, tiếng ca… Con hẻm nhỏ hôm đó bỗng nhộn nhịp, đông vui khác lạ. Âm thanh từ phía trong đình đã đưa NSƯT Trường Sơn trở về với ký ức của hơn nửa thế kỷ trước. Quá khứ như những thước phim quay chậm qua lời kể  của NSƯT Trường Sơn.

Là con trai nghệ sĩ Bảy Đực – tay trống xuất sắc của gánh hát Vĩnh Xuân – Khánh Hồng (sau đổi thành gát hát hồ quảng Minh Tơ – Khánh Hồng) – mới 7, 8 tuổi cậu bé Trường Sơn đã được học hát ở nhóm Đồng ấu Minh Tơ. Đồng môn khi đó của Trường Sơn là Thanh Tòng, Bửu Truyện, Xuân Yến, Thanh Loan, Bo Bo Hoàng, Thành Tốt, Vũ Đức, Thanh Hoàng…

Thời đó, đại gia đình Khánh Hồng – Minh Tơ cùng ăn, cùng ngủ ở ngôi đình Cầu Quan. Mỗi gia đình nhỏ chia nhau một khoảng không gian dưới gầm sân khấu. Người lớn muốn “về nhà” đều phải khom mình vì cái gầm sân khấu rất thấp. Trẻ con, dù là con bầu gánh hay con của đào kép hát đều có chung một kỷ luật như nhau. Tất cả đều phải đi học chữ ở trường. Ngoài giờ học thì cùng nhau học ca, học diễn, học võ, học vũ đạo…

Kỷ luật dành cho các cô cậu đào kép nhí luôn luôn là kỷ luật thép. Trong giờ tập, ai lơ là, chểnh mảng ca trật nhịp, múa võ, đứng tấn sai thế là bị ăn đòn liền tức thì. Lạ một điều, ai cũng sợ đòn tê tái, nhưng so ra giữa bị đòn và bị đuổi ra khỏi hàng, không được học cùng bạn bè thì… thà bị đòn còn hơn.

Thời đó, ở Đồng ấu Minh Tơ, mới hơn 10 tuổi, anh kép nhí Trường Sơn và Thanh Tòng đã được giao cho đảm nhận nhiều vai diễn quan trọng trong các tuồng Hồ Quảng: Lữ Bố, Triệu Tử Long, Châu Du, Quan Công, Quan Bình, Châu Xương, Trịnh Ân, Tống Nhơn Tôn, Bao Công…

Nhưng đó là chuyện trên sân khấu, khi rời sàn diễn đó, tất cả đào kép nhí lại học chung những bài học khác. Trong một đêm hát, tất cả các khâu đều quan trọng như nhau, kể cả hậu đài hay dàn bao. Thế hệ của ông ngày xưa phải bắt đầu từ những công việc chuẩn bị cho một đêm hát. Chuyển cảnh, chạy cờ, làm sân khấu… ai cũng phải rành rẽ. Người lớn dạy họ là nghệ sĩ không chỉ có biết diễn mà phải biết tất cả mọi việc khác có liên quan đến sân khấu, đêm diễn… để khi ra nghề mình hiểu đã làm đúng hay sai và để không ai có thể ăn hiếp được mình.

“Chúng tôi được học mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc. Thậm chí có khi đi lấy nước để người lớn uống, chúng tôi phải đi bằng các động tác vũ đạo. Phải làm sao để nước không đổ khi di chuyển. Bị ăn đòn nhiều nhất là khi tập võ và tập ca. Bị đòn rất đau nhưng sau những lần đó, chúng tôi tự biết rèn mình để không bao giờ lập lại sai lầm. Cứ vậy, chúng tôi trưởng thành và luôn thầm cảm ơn các bậc tiền bối đã trang bị cho chúng tôi sự vững vàng, tự tin để có thể hoá thân vào tất cả các dạng vai, tính cách nhân vật trên sân khấu” – giọng NSƯT Trường Sơn run run khi nhắc lại những ký ức đã xa.

Thành danh nhờ kép độc

Những bức ảnh đã hoen màu treo gần kín vách tường của ngôi nhà nhỏ. Đó là những ký ức tuyệt vời của gia đình NSƯT Trường Sơn. Mỗi bức ảnh là một câu chuyện về một vai diễn để lại nhiều dấu ấn của các thành viên trong gia dình ông.

Hào hứng “khoe” tấm hình Huỳnh Công Lý (vở Trung thần), ông nói đây là vai kép độc mới nhất của ông. “Thành công với các vai kép độc như một cơ duyên may mắn của tôi, bởi từ khi mới bắt đầu được học nghề, tôi đã được cha và thầy chỉ dạy nếu theo nghề hát  thì không bao giờ được phân biệt vai chính phụ, lớn nhỏ. Một kép hát giỏi phải là người có thể hoá thân  thành tất cả các nhân vật và có đủ khả năng biểu diễn để khán giả quên hình ảnh người nghệ sĩ mà chỉ còn nhớ tới nhân vật trên sân khấu”- ông cười, giọng cười giòn tan, ấm áp.

Hơn nửa thế kỷ theo nghề hát, NSƯT Trường Sơn đã có một bộ sưu tập các vai diễn đáng nể: Nguyễn Địa Lô (Cánh nhạn mù sương), Tôn Thất Thuyết (Giai nhân dũng tướng), Tô Hiến Thành (Tô Hiến Thành xử án), Bao Công (Bao Công vô lò gạch, Bao Công xử án Ngọc Tuyền), Hoàng Phi Hổ (Hoàng Phi Hổ quy châu), Đổng Thừa (Tờ huyết thệ), Lý Đạo Thành (Câu thơ yên ngựa), Vương Tư Đồ (Phụng Nghi Đình), Tổng Kỳ (Thần nữ dâng Ngũ Linh Kỳ), Châu Du và Ngô Tôn Quyền (Cầu hôn giang tả), Kiết Bình (Mã Siêu báo phu cừu), Dương Nghiệp (Dương Gia Tướng), Ngũ Tử Tư (Giang sơn và mỹ nhân), Dương Sở Thành (Thái Bình công chúa)…

Nhưng, chẳng biết từ bao giờ hễ nhắc đến kép độc của cải lương, trong danh sách các kép độc nổi tiếng một thời không bao giờ thiếu tên NSƯT Trường Sơn với các vai diễn Bàng Hồng (Xử án Bàng Quí Phi), Bàng Đức (Bao Công đại chiến Bàng Đức), Phạm Khanh (Thanh gươm nữ tướng), Tô Định (Tiếng trống Mê Linh), Huỳnh Công Lý (Trung thần)…

NSƯT Trường Sơn dí dỏm: “Chắc tại tôi đóng “kép dê” thấy ghê quá nên khán giả ấn tượng”.

Bao nhiêu năm trôi qua, ông vẫn nhớ như in “sự cố” xảy ra thời ông còn trai trẻ trên sân khấu đình Cầu Quan: “Hồi đó hát tuồng chủ yếu hát cương theo tích truyện Tàu, mỗi ngày hát một đoạn trong các tích truyện nổi tiếng thời bấy giờ, nên tôi không còn nhớ rõ tên tuồng, tên nhân vật, chỉ nhớ đang diễn vai dê gái, tôi giật mình khi nghe tiếng chửi “thằng dịch dê xồm” sang sảng từ hàng ghế khán giả. Lúc đó đang hoá trang hát tuồng, chớ không chắc nhìn mặt tôi đỏ bừng vì những lời mắng nhiếc rất nặng. Thời còn trẻ, chưa nhiều kinh nghiệm, phải một chút sau tôi mới lấy lại bình tĩnh và tập trung cho nhân vật, nếu không chắc tôi đứng hình, khỏi diễn luôn”.

'Kep doc' NSUT Truong Son chi mong duoc khan gia ghetVai Huỳnh Công Lý – vở Trung thần

Cuộc sống muôn hình vạn trạng, sân khấu phản ánh những góc nhìn khác nhau về cuộc sống nên kép độc cũng không vai nào giống vai nào. Có cái ác lồ lộ ngay từ phục trang, hoá trang nhân vật, nhưng cũng có cái ác được nguỵ trang khéo léo, những mưu đồ tàn độc được mượn tay người khác thực hiện… Lấy điều đó làm “kim chỉ nam” khi đóng kép độc, NSƯT Trường Sơn không tự vẽ ra cho mình một khuôn mẫu kép độc nhất định.

Nhận một vai kép độc mới, ông “xoá” toàn bộ hình ảnh của những vai đã thể hiện để bắt đầu nghiên cứu tính cách, hoàn cảnh, bối cảnh… của nhân vật mới. Những ngăn kéo ký ức, trải nghiệm lại được mở ra, ông chọn lọc ở đó những chi tiết, gam màu phù hợp để phác hoạ nên chân dung cho nhân vật mới của mình. Từ đó, ông tiếp tục thổi hồn cho các vai diễn từ nhấn nhá trong cách ca, cách thoại lời; giọng cười, động tác vũ đạo đến lối diễn bằng mắt ánh mắt, nét mặt hoặc bằng hình thể…

Tự nhận mình không phải là người tài giỏi đến mức có thể “vẽ” mỗi nhân vật là một hình ảnh khác biệt, nhưng NSƯT Trường Sơn nói ông có đủ tự tin để mỗi khi bước ra sân khấu diễn vai kép độc, khán giả sẽ không có cảm giác “đã xem NS Trường Sơn diễn vai giống vậy ở một tuồng khác”.

'Kep doc' NSUT Truong Son chi mong duoc khan gia ghetNSƯT Trường Sơn đang hướng dẫn con cháu tập tuồng

Không nhớ từ bao giờ, NSƯT Trường Sơn có thói quen hay lân la nghe ngóng xem mình đã bị khán giả “ghét” cỡ nào mỗi khi đóng vai kép độc. Hỏi cắc cớ: “Nghệ sĩ chỉ muốn được khán giả yêu thương, còn ông lại muốn bị khán giả ghét. Nghe có vẻ rất… lạ”, ông trả lời mà như đang nhắc với chính mình: “Với người nghệ sĩ, điều quan trọng nhất là phải làm tốt vai diễn của mình, dù chính hay phụ, dù hiền lành hay gian ác. Vai kép độc càng bị khán giả ghét càng thành công. Khán giả càng ghét nhân vật thì càng nhớ mình lâu hơn. Cởi bỏ xiêm y, áo mão, trở về với cuộc đời, mình cố gắng sống cho thật tốt. Cái yêu, cái ghét của khán giả, bạn bè, đồng nghiệp… dành cho mình khi đó mới thực sự quan trọng”.

Nỗi niềm đau đáu

NSƯT Trường Sơn bắt đầu đến với cải lương từ năm 10 tuổi và từ đó đến nay ông đã sống, lao động miệt mài. Càng yêu nghề, ông càng xót xa khi nghệ thuật cải lương dần mất đi vị trí độc tôn trong lòng khán giả. Khi mạng internet ngày càng phát triển, các chương trình truyền hình ngày càng phong phú thì việc lưu giữ tuồng cổ chẳng phải là điều dễ dàng. Với những nghệ sĩ từng gắn bó cả cuộc đời mình cùng sân khấu cải lương tuồng cổ Nam Bộ, việc làm sao để giữ lại sự tinh túy, nét đẹp và để bộ môn nghệ thuật này sống mãi là nỗi niềm đau đáu.

Khi các con quyết định nối nghiệp cha, ông không giấu được niềm trăn trở nhưng chưa khi nào ông cấm cản, bởi ông biết như vậy sẽ có lỗi với tổ nghiệp. “Ông bà đã cho tôi cái nghề, nay lại cho các con của tôi tiếp tục con đường đó, nếu mình ngăn cản thì mang tội lắm. Tôi chỉ dạy các con hãy sống hết mình với nghề khi còn có thể. Có lần, xem con gái biểu diễn ở một sân khấu, khán giả thưa vắng, tôi rớt nước mắt”, NSƯT Trường Sơn tâm sự.

“Kép độc” NSƯT Trường Sơn: Diễn xuất thần, khán giả thấm cái độc, cái ác vì...ghét (Hình 2).

NSƯT Trường Sơn và nghệ sĩ Thanh Loan trong vở Tô Hiến Thành xử án.

Đến nay, các con của ông và nghệ sĩ Thanh Loan đều trở thành những nghệ sĩ tên tuổi của sân khấu cải lương, được khán giả ái mộ. Khi cải lương đã không còn được sức hút như xưa, ông luôn đồng hành bên các con để động viên, dạy bảo và truyền kinh nghiệm. Thời điểm, hai cháu ngoại đến với cải lương, ông đã rất hạnh phúc và lại tận tình chỉ bảo.

Đến nay, NSƯT Trường Sơn dù đã ở cái tuổi xế chiều nhưng vẫn đứng trên sân khấu. Với ông, cuộc sống là sân khấu, thế nên tuổi già, thời thế thay đổi chẳng thể cản bước ông. Điều hạnh phúc hơn cả chính là ông vẫn được khán giả yêu mến, ủng hộ và đón nhận nồng nhiệt khi đứng trên sân khấu. Hiện nay, những đêm diễn có sự xuất hiện của NSƯT Trường Sơn vẫn thu hút nhiều người. Có lần, ông cùng 5 người con của mình hát chung trên sân khấu. Ông nói, đó là kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời nghệ thuật của mình…

Đại gia đình nghệ sĩ hạnh phúc

Ông là chồng của cô đào Thanh Loan, nghĩa là rể của nghệ sĩ Minh Tơ. Hai người sinh ra ba cô con gái Ngọc Trinh, Tú Sương, Thanh Thảo đều theo cải lương. Chưa kể hai con với người vợ trước (cô đào Thanh Ngọc) là Tuấn Sang, Thanh Uyên cũng nối nghiệp mẹ cha. Như vậy, gia đình ông đóng góp vào gia phả của nghệ sĩ Thành Tôn, Minh Tơ, Khánh Hồng đến đời thứ 5. Mới đây, khi phát hiện cô bé Hồng Quyên, con của Tú Sương, cũng ca hát rất say mê, thì ông tràn trề hy vọng cải lương sẽ truyền đến đời thứ 6.

Thanh Loan trắng trẻo, xinh đẹp, vũ đạo thuần thục, chuyên đóng vai đào võ, được khán giả ái mộ vô cùng. Sau giải phóng, bà nổi tiếng trong vai Thượng Dương Hoàng hậu (vở Tô Hiến Thành xử án). Đó là vai diễn để đời của bà, dù đã có những Đào Tam Xuân, Hàn Tố Mai thành công rực rỡ.

Tú Sương đoạt huy chương vàng Trần Hữu Trang, cả chục năm nay vẫn là ngôi sao sáng giá. Cô có thể đóng văn lẫn võ, vũ đạo đẹp, tâm lý sâu sắc, giọng ca khỏe khoắn, trong trẻo. Dù chuyện tình duyên dang dở nhưng Tú Sương vẫn sống vui vẻ vì cô có một đại gia đình hạnh phúc. Hai đứa con Tú Quyên, Hồng Quyên mỗi ngày được ông bà ngoại chăm sóc, nấu ăn, đưa đón đi học để bà mẹ trẻ rảnh tay chạy sô nuôi cả nhà.

Đến lượt Thanh Thảo có con, ông bà ngoại tiếp tục làm “vú em” một cách phấn khởi. Cả nhà thêm mấy thành viên nhí mà diện tích vẫn không nở ra bao nhiêu, xem ra rất chật. Nhưng đất hẹp chứ lòng không hẹp, họ vẫn ríu rít trong cái tổ ấm cúng của mình. Trường Sơn cười: “Chắc tại tui với bả cùng tuổi nên nghèo suốt đời. Nhưng nghèo mà vui là được rồi. Mấy đứa nhỏ cũng hiền lành, không bon chen. Tôi dạy tụi nó tổ nghiệp cho gì hưởng nấy, đừng làm chuyện sai trái. Rồi đâu cũng vào đó hết”.

Đình Cầu Quan là một chứng tích của sân khấu xa xưa, mai này không biết có còn tồn tại để hậu thế tìm về? Căn hộ nhỏ của Trường Sơn rồi sẽ ra sao? Ông trầm ngâm: “Tôi không biết. Chỉ mong cho tôi được chết trên sân khấu như con tằm rút đến sợi tơ cuối cùng…”.

Truyền nhân cuối của gia tộc?

Nếu NSND Thanh Tòng được xem là chưởng môn nhân định hướng trường phái ca diễn cải lương tuồng cổ thì NSƯT Trường Sơn chính là người thổi hồn cho những khám phá mới của anh vợ

NSƯT Trường Sơn được xem là người kế thừa di sản của gia tộc Bầu Thắng – Minh Tơ, sau khi NSND Thanh Tòng qua đời. Trọng trách của ông là truyền nghề ca diễn cải lương tuồng cổ cho hậu thế nhưng xem ra đây là công việc gian truân đối với ông.

Áp lực tìm hậu bối chân truyền

Mái tóc bạc trắng, đôi mắt bắt đầu không còn nhìn rõ mặt chữ, thế nhưng, đôi chân và đôi tay của ông vẫn rất linh hoạt, làn hơi vẫn sang sảng đầy nội lực. Mỗi ngày, ông vẫn có mặt ở sân đình Thái Hưng, nơi xưa kia là điểm biểu diễn của Đoàn Cải lương Minh Tơ – Khánh Hồng, để dạy nghề cho con cháu và hậu bối trân quý bộ môn tuồng cổ. Gia tộc Bầu Thắng – Minh Tơ, tính đến cháu ngoại của ông (bé Kim Thư đang là gương mặt nhí nổi bật sau bộ phim “Nắng”), đã có đến 6 đời ăn lộc Tổ nghiệp.

Ngôi nhà nhỏ của NSƯT Trường Sơn nằm trong con hẻm dẫn vào đình Thái Hưng, ông sinh sống ở đây 60 năm qua. Không gian nhỏ này là nơi các nghệ sĩ: Tú Sương, Ngọc Nga, Lê Thanh Thảo lớn lên, mỗi ngày reo vang tiếng đàn lời ca. Trong gia tộc, nếu NSND Thanh Tòng được xem là chưởng môn nhân định hướng trường phái ca diễn cải lương tuồng cổ, loại bỏ những niêm luật lai căng từ bài bản, vũ đạo của các đoàn hát Quảng Đông, Triều Châu du nhập vào Sài Gòn thập niên 1960, nhằm hình thành phong cách cải lương tuồng cổ thì NSƯT Trường Sơn chính là người thổi hồn cho những khám phá mới của anh vợ, nhằm khẳng định khuôn mẫu để thế hệ sau dựa theo đó mà sáng tạo. Nhân vật Lý Đạo Thành trong tác phẩm đỉnh cao “Câu thơ yên ngựa” chính là vai diễn để đời, biết bao thế hệ diễn viên trẻ đã học hỏi cách hóa thân của ông.

NSƯT Trường Sơn - Truyền nhân cuối của gia tộc? - Ảnh 1.

NSƯT Trường Sơn trong vai Vương Tư Đồ

“Từ khi anh Năm – Thanh Tòng qua đời, tôi ý thức trọng trách của mình, làm mọi cách để hun đúc tinh thần sáng tạo của tuổi trẻ để họ đam mê bộ môn này. Nếu không có sự định hướng, không hệ thống một cách bài bản những gì mà ông cha để lại thì sẽ không nhân rộng những bài học quý về vũ đạo, võ thuật, âm nhạc, cảnh trí, trang phục đúng chuẩn của cải lương tuồng cổ thuần Việt” – NSƯT Trường Sơn trăn trở.

Từ áp lực đó, ông ngồi vào bàn, tập làm công việc hệ thống hóa những tuồng tích, kịch bản của gia tộc. “Trước đây, anh Thanh Tòng đã từng làm và trình bày công trình nghiên cứu khoa học “Từ hát bội đến cải lương tuồng cổ”, do Hội Sân khấu TP HCM đầu tư. Dựa theo kết quả này, tôi bắt đầu triển khai sâu hơn những ngóc ngách của niêm luật. Bằng cách nào để đi vào nội tâm nhân vật, bằng cách nào khai thác âm nhạc và vận dụng đờn ca tài tử, bài bản, các điệu lý nhằm thay thế dần nhạc Hồ Quảng nhưng vẫn sinh động, độc đáo” – ông nói.

Muốn truyền nghề ra ngoài gia tộc

Từ sân đình Thái Hưng, nghệ sĩ Bạch Long gầy dựng đoàn đồng ấu mang tên mình, có hơn 60 diễn viên trẻ xuất thân từ chiếc nôi này, “cậu Hai Trường Sơn” (tên gọi thân quen của người trong gia tộc) luôn là nghệ sĩ thị phạm, trình bày những khám phá mới về vũ đạo, ca diễn cho giới trẻ lĩnh hội. Nghệ sĩ Thành Lộc cũng từng cầm cờ, chạy roi ngựa, đóng các vai nhỏ trên sân đình này, để ngày nay trở thành một trong những người lèo lái thương hiệu kịch IDECAF, dàn dựng nhiều tác phẩm đỉnh cao mà nền tảng học tập cũng từ chiếc nôi cải lương tuồng cổ của gia tộc. “Tôi muốn ươm mầm cho nhiều hạt nhân nòng cốt tương tự. Để khi nhắm mắt xuôi tay, yên tâm vì đã kịp gửi gắm cho thế hệ trẻ những bài học quý của cha ông” – ông tâm sự.

“Trong lãnh địa sân khấu, “đo ni đóng giày” là lợi thế của người viết kịch bản, người dựng, nhắm vào thế mạnh của diễn viên để phân bổ vai diễn, tạo hiệu quả nghệ thuật nhưng với tôi, cách đó sẽ gây sự nhàm chán. Nếu không biết vận dụng ưu thế của diễn viên, khơi dậy sự ứng biến của họ với các vai phá cách, làm mới mẻ hơn trong diễn xuất thì nghệ thuật sẽ giậm chân tại chỗ. Vì vậy, tôi khuyến khích con gái mình – NSƯT Tú Sương diễn Bao Công, Đổng Trác, Lý Đạo Thành… hay động viên Quế Trân diễn Ngọc Hân, Ngọc Bình, Bùi Thị Xuân…Với các bạn trẻ như: Võ Minh Lâm, Chí Cường, Hoàng Đăng Khoa, Minh Trường, Điền Trung… phải mạnh dạn làm mới với những vai diễn khác sở trường” – NSƯT Trường Sơn nêu quan điểm.

Ông hăng hái quy tụ nhiều diễn viên trẻ tham gia các lớp tập huấn do ông truyền dạy. Gọi là lớp chứ các cuộc trao đổi không nhất thiết tại nhà mà ở ngay sàn tập của rạp. Trong chương trình “Ba thế hệ về lại cội nguồn” của người cháu rể Kim Tử Long, chính là nơi để ông đi tìm hậu bối chân truyền. Nhiều người nói hậu bối chân truyền của ông chính là NSƯT Tú Sương, ông đặt kỳ vọng vào cô con gái thứ ba này. “Thế nhưng, tôi muốn trao nghề thêm cho người ngoài gia tộc. Vì như thế sẽ nhân rộng hiệu quả nghệ thuật mà ông cha tôi đã truyền lại” – ông nói. Ông muốn tiếng trống, tiếng đờn, lời ca và vũ đạo không chỉ nằm trên bản thảo mà rộn vang khắp nơi. Nghệ thuật cải lương tuồng cổ có thế mạnh thể hiện những bản anh hùng ca bất khuất của cha ông, nên trọng trách của ông là viết và dàn dựng thêm nhiều hơn nữa những vở diễn hay về tấm gương anh hùng dân tộc.

Suất diễn nhớ đời của NSƯT Trường Sơn

NSƯT Trường Sơn đã trải lòng sau vụ trần nhà hậu trường rạp Công Nhân (quận 1, TP HCM) bất ngờ sụp ngay chỗ ông hóa trang, khiến ông bị thương cánh tay trái.

 NSƯT Trường Sơn vai Nguyễn Địa Lô (vở Bức ngôn đồ Đại Việt)

NSƯT Trường Sơn vai Nguyễn Địa Lô (vở “Bức ngôn đồ Đại Việt”)

– Phóng viênĐược biết, sau suất diễn tối 6-2 với sự cố bị sập trần nhà hậu trường khiến ông bị thương cánh tay trái, đến nay sức khỏe của ông như thế nào?

– NSƯT Trường Sơn: May mắn cho tôi chỉ bị trầy xước nhẹ, dù ra nhiều máu nhưng không ảnh hưởng đến xương. Điều tôi buồn là sự xuống cấp quá đỗi trầm trọng của một rạp hát cũ kỹ. May mà khi đó trần nhà rớt xuống chỉ có tôi và NS Chí Bảo ngồi ngay cạnh bên, không phải là các diễn viên trẻ hoặc các em thiếu nhi có tham gia một vài ca cảnh trong chương trình “Ba thế hệ về lại cội nguồn”, nếu không thì sẽ xảy ra chuyện lớn, vì sau khi trần nhà hậu trường rơi xuống, nhìn những lỗ hổng mới thấy sợ. Điều tôi buồn là sau ngày đất nước thống nhất, nghệ sĩ chúng tôi vẫn diễn trong một sân khấu không còn là thánh đường. Những gì của chế độ cũ để lại, chúng ta trưng dụng và chỉ chắp vá cho xong, mặc cho thời gian bào mòn. Thử hỏi vì sao khán giả quay lưng với sàn diễn khi mà chính người nghệ sĩ tham gia còn chịu quá nhiều rủi ro, thì khán giả ngồi xem trong một khán phòng như rạp Công Nhân, rạp Thủ Đô…sẽ không khỏi lo ngại.

Trần nhà hậu trường rạp Công Nhân sau khi rơi một mảng xuống ngay bàn hóa trang của NSƯT Trường Sơn
Trần nhà hậu trường rạp Công Nhân sau khi rơi một mảng xuống ngay bàn hóa trang của NSƯT Trường Sơn

– Hiện nay rạp Thủ Đô đã được trao cho Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP HCM tiếp quản để sử dụng. Theo ông việc tổ chức biểu diễn có là mối lo đối với nghệ sĩ?

– Sân khấu hát bội đã khó, nay tiếp nhận rạp này càng khó hơn. Khán phòng xuống cấp, sàn diễn cũng rệu rã. Xây dựng một rạp mới để bảo tồn giá trị của nghệ thuật hát bội, sau khi nhà nước đã chuyển trụ sở rạp Long Phụng thành một điểm kinh doanh, thì sự hoán đổi này chưa sòng phẳng lắm đối với nghệ sĩ hát bội. Tôi xuất thân từ sân khấu hát bội, gắn bó với sân khấu cải lương pha hát bội, rồi cải lương tuồng cổ nên tôi hiểu tâm tư tình cảm của anh em nghệ sĩ lãnh vực hát bội. Nghành nghề nào cũng vậy, phải an cư thì mới lạc nghiệp.

Những vết nứt của mảng trần nhà hậu trường rạp Công Nhân có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào
Những vết nứt của mảng trần nhà hậu trường rạp Công Nhân có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào

– Sau khi NSND Thanh Tòng qua đời, đối với gia tộc Bầu Thắng, Minh Tơ, Thanh Tòng, xem như ông là người con rể còn trụ lại với nghề, ông vẫn tiếp tục phát huy truyền thống, truyền nghề cho thế hệ trẻ. Vậy theo ông cần làm gì để việc huấn luyện nghề nghiệp đối với bộ môn sân khấu tuồng cổ hiện nay có được khởi sắc?

– Cha tôi là nghệ nhân đánh trống Bảy Đực, ông là tay trống cự phách của làng hát bội. Khi làm sui với nghệ nhân Minh Tơ, 2 ông chủ trương huấn luyện thế hệ nghệ sĩ là con cháu trong gia tộc để ai cũng biết nghề, từ vũ đạo, võ thuật cho đến ca diễn với những trình thức sân khấu hát bội và tuồng cổ. Khi anh năm Thanh Tòng đột ngột qua đời vì bệnh tật, tôi hụt hẫng, con cháu thương tiếc, đau buồn. Trọng trách không chỉ của riêng tôi mà đè nặng trên vai các thành viên còn lại của thế hệ chúng tôi như: Xuân Yến, Thanh Loan, Công Minh, Thanh Sơn, Chí Bảo…

NSƯT Trường Sơn và NS Chí Bảo trong vở Bức ngôn đồ Đại Việt diễn tối 6-2 tại rạp Công Nhân
NSƯT Trường Sơn và NS Chí Bảo trong vở “Bức ngôn đồ Đại Việt” diễn tối 6-2 tại rạp Công Nhân

Nay thì chị Xuân Yến, chị vợ của tôi lại bệnh nặng. Coi như việc quán xuyến, truyền nghề còn lại mấy anh chị em. Lâu rồi sàn diễn đìu hiu, ít có suất để các em cháu cọ xát với nghề nên chúng tôi vẫn mượn sân đình Cầu Quan để làm sàn tập, hướng dẫn thêm cho các diễn viên trẻ.

Khi anh Thanh Tòng còn sống, anh đã mong ước có sự hỗ trợ của nhà nước để thành lập CLB cải lương tuồng cổ, dành cho thế hệ trẻ như ngày xưa nghệ nhân Minh Tơ, cha vợ của tôi đã thành lập đồng ấu Minh Tơ; thế hệ chúng tôi lớn lên trên sân khấu của đồng ấu Minh Tơ.

Tôi mong sao khi rạp Hưng Đạo mới đi vào hoạt động, sau khi đã nghiệm thu hoàn chỉnh hệ thống phòng cháy, chữa cháy thì hãy dành cho cải lương tuồng cổ những suất diễn, để tiếp tục phát huy truyền thống của bộ môn này, đó là duy trì việc truyền nghề cho con em nghệ sĩ.

Nơi NSƯT Trường Sơn hóa trang tại hậu trường rạp Công Nhân sau khi một mảng trần nhà sụp xuống
Nơi NSƯT Trường Sơn hóa trang tại hậu trường rạp Công Nhân sau khi một mảng trần nhà sụp xuống

– Khi diễn vai Nguyễn Địa Lô, một vai diễn hay trong tác phẩm sân khấu “Bức ngôn đồ Đại Việt”, ông có suy nghĩ gì?

– Tôi tái diễn vai này trong đêm 6-2 và đó là đêm diễn nhớ đời của tôi. Dù bị thương ở tay nhưng tôi cố gắng diễn cho tròn nhân vật của mình. Tay đau nhưng khi ra sàn diễn thì quên hết mọi thứ. Vai này từ anh năm Thanh Tòng dàn dựng, sau này có em Vũ Linh đã từng diễn, đoạt HCV xuất sắc giải Trần Hữu Trang năm 1991- 1992. Vai diễn có quá nhiều kỷ niệm đối với gia đình tôi và gần như các mùa thi của giải Trần Hữu Trang, giải Chuông vàng vọng cổ, các diễn viên trẻ cũng đều chọn vai diễn khuôn mẫu này để tranh tài.

Tôi còn đang hăng sức, muốn được tái diễn nhiều vai được đúc kết kinh nghiệm từ nhiều bậc tiền bối đi trước, nhằm truyền lại cho các em diễn viên trẻ nhưng lực bất tòng tâm, các suất hát ngày càng ít dần thì làm sao có thể truyền nghề cho thế hệ trẻ.

Tôi mong sao các đài truyền hình nhanh chóng quay hình lại những tác phẩm tuồng cổ kinh điển, để truyền đạt kinh nghiệm, lưu trữ một cách có hệ thống những viên ngọc tinh túy của nghệ thuật cải lương tuồng cổ. Bởi, một khi thế hệ chúng tôi rơi rụng dần thì sẽ mang tất cả những bài học đó xuống mồ, thế hệ trẻ khao khát làm nghề sẽ bị thiệt thòi vì chính những người nắm giữ trọng trách ươm mầm sống cho tài năng trẻ đã không quan tâm đến vấn đề này.

NSƯT Trường Sơn và Tú Sương trong vở Bức ngôn đồ Đại Việt suất diễn tối 6-2 tại rạp Công Nhân
NSƯT Trường Sơn và Tú Sương trong vở “Bức ngôn đồ Đại Việt” suất diễn tối 6-2 tại rạp Công Nhân