Cố NSƯT Thanh Sang: một đời chật vật vẫn hát đến hơi thở cuối cùng

0
116

Là một trong những kép chánh đình đám thập niên 70, ít ai biết cố NSƯT Thanh Sang lại có cuộc đời lắm truân chuyên.

Cố NSƯT Thanh Sang là nghệ sĩ cải lương nổi tiếng nhất nhì thập niên 70 tại miền Nam Việt Nam, là bậc tiền bối của những nghệ sĩ gạo cội như Minh Vương, Lệ Thuỷ, Ngọc Giàu… Cùng với “bà hoàng sân khấu” là cố NSƯT Thanh Nga, ông đã tạo ra được những vở cải lương đi vào lịch sử của bộ môn nghệ thuật này như Tiếng trống Mê Linh, Bên cầu dệt lụa…

Đình đám là vậy nhưng cố NSƯT Thanh Sang lại có cuộc đời lận đận, ngụp lặn trong sự nghèo khó bủa vây. Một đời đứng trên sân khấu, cố NSƯT Thanh Sang yêu cải lương như một phần huyết mạch, đến cả khi già yếu, ông vẫn lên sân khấu và thực hiện tròn vai diễn của mình.

 Cố NSƯT Thanh Sang và cuộc đời cống hiến hết mình cho nghệ thuật​. Thanh Sang - Thanh Nga là đôi đào kép tạo ra vở cải lương huyền thoại "Tiếng trống Mê Linh". (Ảnh: VNExpress)Cố NSƯT Thanh Sang và cuộc đời cống hiến hết mình cho nghệ thuật​. Thanh Sang – Thanh Nga là đôi đào kép tạo ra vở cải lương huyền thoại “Tiếng trống Mê Linh”. (Ảnh: VNExpress)

Một đời sống trong cảnh chật vật, bị 6 người vợ bỏ vì nghèo

Sinh ra ở một làng chài nghèo, NSƯT Thanh Sang trải qua tuổi thơ vô cùng cơ cực. Cha mất sớm, một mình mẹ ông phải tảo tần nuôi con. Từ nhỏ, ông phải đi đánh cá kiếm tiền nuôi gia đình và đi học, có khi đói quá phải vớt con bò chết trôi trên biển lên ăn qua ngày.

Hào hoa trên sân khấu là vậy nhưng ít ai biết NSƯT Thanh Sang đã từng bị 6 người vợ bỏ, nguyên nhân vốn dĩ cũng là do cái nghèo bủa vây. Đi hát không đủ tiền, ông phải chạy thêm taxi, vừa phải nuôi thân, nuôi mẹ lại phải nuôi vợ, cuộc sống không đầy đủ nên 6 bà vợ của ông đều lần lượt bỏ đi.

 Nghề hát không đủ nên NSƯT Thanh Sang phải chật vật với cuộc sống. (Ảnh: 24h)Nghề hát không đủ nên NSƯT Thanh Sang phải chật vật với cuộc sống. (Ảnh: 24h)

Người vợ thứ 7 của cố NSƯT Thanh Sang là cô con gái của bà chủ đoàn cải lương mà ông theo hát. Vì ái mộ tài năng của ông mà bà đã gả con gái mình cho ông bất chấp cảnh nghèo của ông khi đó. Ấy vậy mà cuộc hôn nhân được mai mối ấy lại kéo dài 38 năm, người vợ thứ 7 đã ở bên ông đến những năm tháng cuối đời.

 Hào hoa trên sân khấu nhưng NSƯT Thanh Sang từng 6 lần bị vợ bỏ. (Ảnh: Cải Lương Việt)Hào hoa trên sân khấu nhưng NSƯT Thanh Sang từng 6 lần bị vợ bỏ. (Ảnh: Cải Lương Việt)

Người vợ thứ 7 kể cuộc sống của mình và chồng cũng không mấy khấm khá, ngoài đi hát “ông hoàng sân khấu” phải đi mua xe cũ, mày mò sửa chữa và tân trang để bán lại kiếm thêm thu nhập. Dù là kép chánh nhưng cố nghệ sĩ không nề hà bất cứ việc gì, ông tự chạy xe đi lấy bảng, xuống bếp nấu ăn, tự mình chế đạo cụ để tiết kiệm chi phí cho gánh hát của mẹ vợ.

Yêu cải lương đến những năm tháng cuối đời

Những năm tháng cuối đời, sức khỏe Thanh Sang ngày càng suy yếu, phải tìm những bài thuốc dân gian để chữa trị, nhưng trong ông chưa bao giờ cạn tình yêu với nghệ thuật. Ông vẫn nhớ nghề, nhớ sân khấu dù đi còn chẳng vững chứ đừng nói đến hát hay biểu diễn.

 Thanh Sang vẫn biểu diễn đến những năm tháng cuối đời. (Ảnh: Phụ Nữ)Thanh Sang vẫn biểu diễn đến những năm tháng cuối đời. (Ảnh: Phụ Nữ)

Ấy vậy mà năm 2015, NSƯT Thanh Sang lại nhận lời tham gia vai diễn anh Hai Càng trong Nửa đời hương phấn. Trước khi bước lên sân khấu, ông còn không mặc nổi áo, phải nhờ NSND Minh Vương phụ giúp.

Giọng hát ông lúc này đã có phần chếnh choáng nhưng khán giả ai nấy đều vỗ tay. Hát xong vở diễn, ông bước xuống cánh gà và gục ngã, sau đó được đưa vào bệnh viện và hôn mê 18 ngày. Đây cũng là vai diễn cuối cùng của ông.

 NSƯT Thanh Sang trong những năm tháng cuối đời. (Ảnh: Báo Người Lao Động)NSƯT Thanh Sang trong những năm tháng cuối đời. (Ảnh: Báo Người Lao Động)

Năm 2017, giới mộ điệu cả nước đau xót khi hay tin “ông hoàng sân khấu” ngày nào đã chính thức từ giã cõi trần, từ giã nghệ thuật sau thời gian chống chọi với bệnh tật, hưởng thọ 74 tuổi. NSND Lệ Thuỷ chia sẻ đến cuối đời Thanh Sang vẫn yêu sân khấu, ông còn hứa hẹn sẽ tổ chức liveshow kỷ niệm 75 tuổi nhưng lại ra đi khi giấc mơ vẫn chưa thành.

 Ông ra đi khi giấc mộng làm show 75 tuổi vẫn chưa thành. (Ảnh: Phapluat)Ông ra đi khi giấc mộng làm show 75 tuổi vẫn chưa thành. (Ảnh: Phapluat)

Một đời cống hiến, xem cải lương như huyết mạch, cố NSƯT Thanh Sang được xem là một trong những người có công đưa bộ môn nghệ thuật này đi đến trang vàng lịch sử. Tuy vẫn chưa đạt danh hiệu NSND nhưng trong lòng khán giả, Thanh Sang đích thực đã là “nghệ sĩ của nhân dân”.

Nghệ sĩ Thanh Bạch bày tỏ lòng ái mộ dành cho cố NSƯT Thanh Sang

Là một trong những người tạo ra thời kỳ huy hoàng của cải lương Việt Nam nên NSƯT Thanh Sang được nhiều nghệ sĩ trọng vọng, ái mộ. Nghệ sĩ, MC Thanh Bạch nghẹn ngào kể lại những ký ức của mình dành cho “ông hoàng sân khấu” một thời:

“Những năm 60-70, Thanh Bạch còn nhỏ xíu hay ôm cái máy hát chạy bằng pin ra hàng hiên trời mát mát nghe cải lương của nghệ sĩ Thanh Sang, Thành Được, Phượng Liên… Thời đó, cải lương chỉ được nghe thôi, chưa có hình đâu, chính vì vậy giọng anh Thanh Sang cất lên, trầm trầm, điềm tĩnh mà chân chất… bao lần lấy nước mắt của tôi.

Rồi cũng có tivi trắng đen. Tôi được nghe và xem anh hát. Những vai nam tướng tính cách thần thái “nhân, nghĩa, lễ, tín, dũng” anh Sang diễn ra dáng lắm. Mà tôi nghĩ, hiếm có một ai có thể vào những vai đó tốt bằng anh”.

Hay tin NSƯT Thanh Sang ra đi, Thanh Bạch không khỏi chua xót và tiếc nuối cho ông hoàng vang bóng một thời.

Ку́ ức Thanh Sang: 7 năm thành sao, 7 lần ở тù và 7 người vợ

Kỳ lạ làm sao, cuộc đời lắm truân chuyên của Thanh Sang luôn gắn liền với con số 7.

Con số 7 định mệnh

Ba ông mất lúc ông mới 7 tuổi, đó là cột mốc đầu tiên. Cậu bé 7 tuổi đã sớm ý thức mình là “người đàn ông” duy nhất trong gia đình nên không nề hà gánh vác cho mẹ và các chị. Đến khi đi hát, đúng 7 năm sau, ông đoạt giải Thanh Tâm. Ông vô nghề năm 1957 thì đến năm 1964, ông được xướng tên lãnh huy chương vàng cùng với nghệ sĩ Lệ Thủy.

Ông đóng vai Tạ Tốn trong vở Cô gái Đồ Long của đoàn Dạ Lý Hương, một vai kép lão tưởng chừng “dìm hàng” anh kép trẻ Thanh Sang, nhưng không ngờ lại đẩy Thanh Sang lên đài danh vọng. Vai Tạ Tốn chẳng những là vai già mà còn khó diễn bởi nhân vật bị mù, làm sao nghệ sĩ sử dụng được đôi mắt hỗ trợ cho tâm trạng.

Thanh Sang chỉ còn dùng nội lực trong giọng ca, trong diễn xuất của hình thể, và sự chững chạc của ông đã chinh phục khán giả lẫn ban giám khảo, đến nỗi người ta gọi Thanh Sang bằng biệt danh của Tạ Tốn là Kim Mao Sư Vương. Và vở Cô gái Đồ Long bán vé như tôm tươi, khiến đoàn Dạ Lý Hương phấn khởi. Ông bầu Xuân của Dạ Lý Hương ký liền một hợp đồng lớn và Thanh Sang mừng rỡ chạy ngay về Phước Hải mua một căn nhà cho mẹ.

Nhưng dù đoạt giải Thanh Tâm rồi thì các nghệ sĩ thời đó vẫn bị bắt quân dịch. Vô trại hoài nên không hát được, rốt cuộc cũng nghèo như trước dù mang tiếng là huy chương vàng Thanh Tâm.

Chợt nhớ NSND Diệp Lang cũng có lần kể y như vậy, ông đoạt giải Thanh Tâm năm 1963 rồi cũng bị bắt quân dịch, cũng nghèo khổ lận đận suốt. Thanh Sang lắc đầu: “Ai có tiền lo lót thì được ra hát, còn không cứ cắm trại. Trốn ra được vài lần để hát, khi bị lộ thì bị nhốt cấm túc biệt lập, khổ lắm. Khoảng năm 1974, tôi đã tính bỏ ngón tay để miễn quân dịch luôn, nhưng may mà năm 1975 giải phóng đất nước. Tính ra tôi đi lính hết 7 năm. Thật lòng mà nói, cái giá của hòa bình đắt lắm, có khi lớp trẻ chưa từng trải qua chưa thấu hiểu đâu”.

7 người vợ

Và cái duyên với số 7 của Thanh Sang còn là 7 người vợ đi qua cuộc đời ông. Trong đó, có một người là con gái của ngôi sao cải lương Ngọc Nuôi, tên Ngọc Bích. Sau này, dù Thanh Sang và Ngọc Bích đã chia tay, nhưng ông vẫn hát chung với “bà già vợ” trong vở Bên cầu dệt lụa. Ông đóng vai Trần Minh, còn Ngọc Nuôi đóng vai mẹ Trần Minh. Hai mẹ con hát thật ăn ý, giọng ca và diễn xuất của Ngọc Nuôi dù ở tuổi xế chiều nhưng vẫn làm nên một vai diễn để đời. Còn Thanh Sang – Trần Minh làm khán giả rơi nước mắt khi lên câu vọng cổ khóc mẹ.

Sau này, ông nói về mẹ vợ của mình thật trìu mến: “Tôi nghe tin bà mất trong khi quỳ lạy Phật tụng kinh, thật là đại phước. Đâu phải ai muốn mất như vậy là được. Có người chết vật vã trong bệnh viện. Có người chết vì tai nạn. Còn bà đi bình an dưới chân Đức Phật. Tôi xúc động lắm”.

Ông trầm ngâm: “Và tôi cũng có 7 năm cô đơn, không vợ con gì hết. Cuối cùng mới gặp ‘bà Liễu’ đây nè”. Bà Liễu tên thật là Ngọc Mỹ. Bà là con gái nhà giàu, mẹ bà vì mê cải lương, mê Thanh Sang mà kêu gả con cho ông một cách ngon lành. Tấm ảnh treo trên tường cho thấy bà hồi ấy rất đẹp, lấy chồng một cách khá ngây thơ. Và bà cũng rất vị tha khi thấy ông chồng “ngôi sao” của mình nhiều ong bướm dập dìu lượn quanh. Có người biết bà là vợ mà cứ xông thẳng vô nhà ngồi… đợi ông. Bà nấu cơm mời ăn, cũng ăn, rồi ngồi… đợi tiếp. Dạng si tình như vậy mà bà Liễu nhịn được, thảo nào đồng nghiệp cứ khen bà. Thanh Sang chỉ còn cách trốn biệt cho người ta nản mà bỏ cuộc.

Còn bà Liễu quan niệm: “Ổng là nghệ sĩ thì dĩ nhiên có nhiều người mê. Thây kệ. Cái gì của mình là của mình”. Và bà một tay chèo chống gia đình, nuôi con nhỏ, chăm mẹ già khi chồng đi hát xa. Sau này bà còn mở quán cơm, thức khuya dậy sớm lo nấu nướng, quản lý, vất vả vô cùng. Đến lúc Thanh Sang bệnh nặng, cũng một tay bà chăm sóc. Nhắc ông từng viên thuốc, chở đi khám bệnh, chở đi hát, canh ông trong bệnh viện, đọc kịch bản cho ông, viết lại bản nháp hồi ký mà ông thảy ra…

Vừa là vợ, là tài xế, là y tá, là nhắc tuồng, là thư ký, là bảo mẫu… Biệt thự vừa xây rất to bên bờ sông Sài Gòn cũng có công sức của bà rất nhiều. Có lẽ duyên phận của ông kết thúc ở con số 7 này, ở người vợ thứ 7 này cũng là xứng đáng.

Ảnh: Tổng hợp

Hồi ức đẹp về Cố NSND Út Trà Ôn: Người nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca”

Ở thời điểm đỉnh cao của sự nghiệp, NSND Út Trà Ôn được người ta gọi bằng nhiều danh xưng, trong đó nhiều nhất là “đệ nhất danh ca” và “vua vọng cổ”. Từ một anh nông dân mê hát, Út Trà Ôn đã trở thành một biểu tượng của nghệ thuật cải lương nhưng để xây được tượng đài ấy, ông đã trải qua một hành trình dài học tập và phấn đấu.

Anh nông dân lập kỷ lục về mức cát-xê

Út Trà Ôn là con thứ mười trong một gia đình làm nông, cha mẹ mất sớm nên Mười Út vất vả từ nhỏ. Khi những đứa trẻ trong làng mải mê với những trò trận giả thì cậu bé Mười Út vất vả trên cánh đồng. Giữa cái nắng oi bức, Mười Út lấy ca hát làm niềm vui. Từ chuyện ca cho vui, Mười Út được dân làng tín nhiệm cho vào ban nhạc lễ của làng. Dần dần, các nhạc sư trong làng dạy ông học ca 20 bài bản tổ của cổ nhạc.

Với vốn liếng ít ỏi ấy, chàng thanh niên Mười Út lên Sài Gòn lập nghiệp. Khi ấy là năm 1937, ông 18 tuổi. Ông được giới thiệu với đài phát thanh Sài Gòn và giọng ca truyền cảm, ấm áp, đậm chất miền Tây của ông đã chinh phục khán giả. Thuở ấy, chàng trai 18 tuổi nổi danh khắp các tỉnh miền Nam. Chàng trai trẻ Mười Út được bầu show, khán giả chào đón nồng nhiệt. Khi ấy cậu bé Mười Út choáng ngợp với thành công đến bất ngờ. Giờ đây, thay vì chân lấm tay bùn trên đồng ruộng, Mười Út đứng trên sân khấu, được ca, được diễn, được đón nhận những tràng pháo tay cuồng nhiệt của khán giả. Đây cũng là thời điểm ông lấy nghệ danh Út Trà Ôn.

Vốn là một nông dân, phải làm việc nơi đồng ruộng từ khi còn nhỏ nên Út Trà Ôn không biết đọc, nhưng điều đó chẳng thể cản bước Út Trà Ôn đến với thành công. Tình yêu dành cho sân khấu, cho những điệu vọng cổ đã giúp ông học thuộc kịch, lời ca mà diễn thật ngọt mà chẳng cần phải biết chữ.

Mỗi khi nhận vai mới, ông sẽ nhờ một người đọc kịch bản cho mình nghe, cứ đọc đi đọc lại nhiều lần cả lúc ngồi ăn cơm, hay trước khi ngủ, đến khi tập kịch ông sẽ nhớ vanh vách không thiếu một từ. Không chỉ thuộc chay, ông còn thể hiện cảm xúc của mỗi đoạn ca rất ngọt. Vì vậy mà, nhiều người không nghĩ Út Trà Ôn không biết chữ.

NSND Út Trà Ôn: Nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca”Nghệ sĩ tài danh Út Trà Ôn.

Điều làm nên sức hút cho giọng ca của Út Trà Ôn chính là do ông có làn hơi đồng pha thổ trầm ấm cùng phong cách ca ngâm độc đáo, vừa luyến láy kỹ thuật nhưng lại vừa chân phương. Không chỉ vậy, ông còn được coi là bậc thầy về lối hành văn, sắp chữ. Câu nhiều chữ ông ca vẫn hay, câu ít chữ kéo ra vẫn duyên dáng. Phát âm tròn vành, nhịp nhàng chắc chắn, trầm bổng rõ ràng. Chính vì vậy mà người ta không ngớt lời ca tụng ông. Báo giới và khán giả trao cho ông nhiều danh xưng và 2 trong số đó là “đệ nhất danh ca” miền Nam và “vua vọng cổ”.

Thuở ấy, ông là nghệ sĩ liên tục lập kỷ lục cát-xê. Năm 1948, Út Trà Ôn ký hợp đồng 50.000 đồng với ông bầu gánh Tiến Hóa. Thời điểm ấy, đây là con số kỷ lục vì nó bằng một nửa giải độc đắc xổ số. Thời gian sau, vì danh tiếng nổi như cồn mà mức cát-xê của ông liên tục tăng từ 50.000 đồng lên 100.000 đồng, 150.000 đồng rồi 300.000 đồng. Năm 1958, Út Trà Ôn gia nhập đoàn Thanh Minh và xác lập kỷ lục về mức cát-xê 750.000 đồng một năm. Con số này đã làm nhiều người khi ấy choáng váng.

Với nguồn thu nhập cao, cuộc sống của Út Trà Ôn cũng vì thế mà rất vương giả. Ông có biệt thự, xe hơi và chi tiêu bạc triệu mà chẳng phải nhíu mày. Ngày ấy, ông có tài xế riêng, có đến 3 người giúp việc. Ai nhìn vào cuộc sống của ông khi ấy đều ngưỡng mộ với thành công mà anh nông dân ngày nào đạt được.

Chung thủy nhất mực dù nhiều bóng hồng vây quanh

Là nghệ sĩ nức tiếng, giàu có, được nhiều cô gái mê mẩn nhưng Út Trà Ôn lại là người đàn ông rất chung thủy. Ông chỉ có duy nhất một người vợ và luôn chung thủy dù thường xuyên được các người đẹp săn đón.

Khi gặp vợ Út Trà Ôn đã là kép chánh rất nổi tiếng, nhưng họ lại gặp nhau trong hoàn cảnh hết sức bình dân. Thuở ấy, Út Trà Ôn dù có mức cát-xê cao ngất ngưởng nhưng lại không đến các nhà hàng sang trọng mà thường xuyên lui tới một quán cơm bình dân nằm trong hẻm, quán chuyên bán cho sinh viên, công nhân để ăn. Ông đến đây ăn cơm không phải chỉ do thói quen ăn uống giản dị mà còn để ngắm cô con gái duyên dáng của ông chủ quán cơm để rồi họ nên duyên vợ chồng.

Người vợ trẻ khi ấy là một cô gái xinh xắn và tính tình chân thật. Những ngày đầu, bà khá e ngại vì ông là nghệ sĩ nổi tiếng, giàu có và được nhiều phụ nữ say mê. Bà sợ ông không chung thủy, sợ ông quan cách vì là người nổi tiếng. Nhưng, sau đó, bà nhận ra Út Trà Ôn là người chân thành, gần gũi, mặc dù là người nổi tiếng nhưng ông rất giản dị.

Tình yêu của Út Trà Ôn và vợ đến rất nhẹ nhàng, dung dị và sau một thời gian tìm hiểu, họ nên duyên vợ chồng. Để có được một Út Trà Ôn thủy chung nhất mực với gia đình, phải kể đến sự khéo léo, ứng xử tuyệt vời của vợ ông. Mặc dù các bóng hồng luôn vây quanh ông nhưng bà chưa bao giờ tỏ ý ghen tuông. Khi gặp những cô gái vồ vập, muốn lôi kéo sự chú ý của Út Trà Ôn, bà cũng chỉ mỉm cười độ lượng.

NSND Út Trà Ôn: Nông dân không biết chữ thành “đệ nhất danh ca” (Hình 2).NSND Út Trà Ôn và vợ – bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Cuộc sống của gia đình ông cũng nhờ thế mà rất êm ấm, không xảy ra bất cứ điều tiếng gì. Hai ông bà đã cùng nhau bước qua nhưng thăng trầm của nghệ thuật sân khấu cải lương. Ở thời điểm các sân khấu cải lương ít sáng đèn, bà chính là người đã gánh vác gia đình thay ông. Một tay bà lo lắng kinh tế để các con được học hành, cuộc sống gia đình không bị xáo trộn. Không chỉ đảm đương gánh nặng kinh tế, bà còn là nguồn động viên tinh thần khi Út Trà Ôn buồn lòng chứng kiến sức hút của cải lương giảm dần. Thế nên, trong mắt của Út Trà Ôn vợ ông là người phụ nữ tuyệt vời. Cuộc đời ông được trọn vẹn chính là nhờ người phụ nữ hiền dịu, tần tảo ấy. Vì vậy, khi nhắc đến Út Trà Ôn không thể không nhắc đến người vợ xinh đẹp, đảm đang và giỏi giang của ông.

Khi nhắc đến NSND Út Trà Ôn người ta không thể không nói đến bài vọng cổ Tình anh bán chiếu. Chỉ có 6 câu vọng cổ, trình bày chưa đến 10 phút nhưng nó đã đưa Út Trà Ôn và Viễn Châu lên “ngôi vua” của làng vọng cổ. Nội dung bài ca khá đơn giản, chỉ là tâm sự của một thanh niên làm nghề bán chiếu phải lòng một cô gái đặt mua. Khi anh trở lại giao chiếu như giao hẹn thì cô gái đã sang ngang mà có biết đâu anh bán chiếu đã thầm thương trộm nhớ. Chính sự đơn giản ấy mà Tình anh bán chiếu trở nên gần gũi với cuộc sống.

Giữa thập niên 1960, đĩa hát Tình anh bán chiếu đã tạo nên một làn sóng ủng hộ rộng lớn ngay sau khi phát hành. Bài ca thâm nhập vào mọi ngõ ngách ở miền Nam, từ các nhóm đờn ca tài tử cho đến tiểu thương, quân đội, công chức… Hầu như người miền Nam nào cũng biết đến bài vọng cổ này. Không chỉ được yêu thích ở miền Nam, Tình anh bán chiếu còn được nhiều người miền Trung, miền Bắc yêu thích.