Cố nghệ sĩ Phương Quang – ‘ông vua’ hiền hậu của làng sân khấu

0
2733

Nghệ sĩ nào được Tổ đãi thì hát mau nổi danh, có nhiều khán giả ái mộ, khi xuất hiện trên sân khấu thì duyên dáng lạ thường, sắc đẹp quyến rũ dù cho ngoài đời người đó không đẹp, mặt rỗ hoa mè.

Nhưng khi màn nhung kéo lên, dưới ánh đèn sân khấu chói chan, người nghệ sĩ được Tổ đãi bước ra giữa sàn diễn thì sẽ ngời ánh hào quang, sẽ thu hút sự chú ý yêu thích của khán giả như có sức hút của thỏi nam châm khổng lồ. Trái lại người nghệ sĩ không được Tổ đãi thì sẽ muôn phần kém may mắn.

Không được Tổ đãi

Cùng có một giọng ca chân phương, giọng ca mạnh mẽ, cách ca mạch lạc, đôn hậu như nhau nhưng danh ca vọng cổ Út Trà Ôn được nổi danh là vua vọng cổ, nhanh chóng gặt hái danh vọng lẫn tiền tài. Còn nghệ sĩ Phương Quang, trẻ hơn, giọng ca lối ca giống như Út Trà Ôn, nhưng nghệ sĩ Phương Quang không được hưởng lộc Tổ nhiều như nghệ sĩ Út Trà Ôn tuy rằng nghệ sĩ Phương Quang cũng có tài năng và cũng gặt hái thành công trên sân khấu đoàn Kim Chưởng.

Nghệ sĩ Phương Quang tên thật là Tô Văn Quang, sanh năm 1947, con trai lớn trong một gia đình có 6 anh em. Cha mẹ làm nghề nông ở tỉnh Bình Dương tức tỉnh Thủ Dầu Một cũ.

Như mọi người dân miền Nam ở đồng ruộng, em Quang thích cải lương. Quê em ở Dĩ An có người nhạc sĩ guitare Tư Còn, cha đẻ của lối đờn vọng cổ với giây Ngân Giang nên ở quê em, phong trào đờn ca tài tử lên cao. Trong thôn xóm thường tổ chức đờn ca tài tử sau những vụ trúng mùa lúa, mùa trái cây hoặc trong những dịp quan, hôn, tang, tế hay ngày tết ngày lễ. Em Quang học ca cổ nhạc, tham gia các cuộc đờn ca tài tử và em cũng là một cầu thủ đá banh giỏi của đội banh địa phương.

Giọng ca khoẻ khoắn chân phương, mang âm hưởng “Út Trà Ôn”

Năm 1962, nhân nghe có đoàn hát Kinh Thành tuyển diễn viên ở đường Lê Văn Duyệt, em Quang vào dự thi. Soạn giả Điêu Huyền là giám khảo, chấm giọng ca khoẻ khoắn và chân phương của em Quang trong số hàng trăm thí sinh đến dự tuyển.

Soạn giả Điêu Huyền đặt cho em Tô Văn Quang nghệ danh là Phương Nam. Đêm Noel 1962, đoàn Kinh Thành khai trương vở tuồng “Cánh Nhạn Phương Trời”. Đây là vở hát đầu tiên của nghệ sĩ Phương Quang với vai An Phong.

Đoàn hát Kinh Thành khai trương không lâu, không hiểu sao lại chuyển qua cho nghệ sĩ Tuấn Kiệt làm chủ, đổi bảng hiệu lại là đoàn hát Tuấn Kiệt, nghệ sĩ Phương Quang đóng một vai quan trọng trong tuồng “Lặng Sóng Trùng Dương”. Đoàn Tuấn Kiệt khai trương tuồng mới ở rạp Viễn Trường tỉnh Mỹ Tho, sau đó đoàn lưu diễn các tỉnh miền Hậu Giang.

Nghệ sĩ Út Trà Ôn, bầu gánh hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn khám phá giọng ca của Phương Quang giống với lối ca của ông nên ông ký contrat 300.000 đồng mời Phương Quang về cộng tác trong ba năm. Ý định của anh Út Trà Ôn là yêu cầu soạn giả Thiếu Linh sáng tác một vở tuồng dưới hình thức như một người thay hồn đổi xác. Cùng giọng nói, cùng giọng ca nhưng dưới hai thể xác khác nhau để đề cặp đến một mối tình do luân hồi chuyển kiếp tạo ra. Anh Mười Út có sáng kiến khai thác hai giọng ca vọng cổ chân phương: Giọng ca của Út Trà Ôn và giọng ca của nghệ sĩ Phương Quang. Vở tuồng “Trăng Lên Ngoài Cửa Ngục” của Thiếu Linh đã gây xôn xao dư luận trước sức hút của hai giọng ca tuyệt vời Út Trà Ôn và Phương Quang. Báo chí kịch trường xác nhận Phương Quang không phải là phiên bản của giọng ca Út Trà Ôn mà là một hòn ngọc còn ẩn trong đá. Nếu được dồi mài hẳn sẽ rực sáng hơn lên. Lời ngợi khen của báo kịch trường đem lại thêm rất nhiều khán giả đến xem đoàn hát Thống Nhứt của Út Trà Ôn nhưng lợi nhuận đó chỉ làm cho anh thêm điên đầu vì bầu gánh Kim Chưởng sau khi xem Phương Quang hát, đã ký hợp đồng 500.000 đồng cho Phương Quang với lời hứa dạy cho em diễn xuất trên sân khấu chớ không phải chỉ luyện ca vọng cổ thôi.

Thế là nghệ sĩ Phương Quang rời đoàn hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn, về cộng tác với đoàn Kim Chưởng cuối năm 1964.

Thành công với các vai “anh hùng”

Dưới bàn tay điêu luyện của nghệ sĩ minh sư Kim Chưởng, nghệ sĩ Phương Quang được học nghề hát một cách có bài bản và nghiêm túc. Anh trở thành một diễn viên đa năng, hát thành công được nhiều loại vai tuồng nhưng với vóc dáng mạnh khoẻ, tướng đi chững chạc, giọng ca cao vút và khoẻ khoắn, nghệ sĩ Phương Quang dễ thành công với các vai trung dũng, các võ tướng oai hùng.

Chỉ mới hai năm luyện nghề hát, Phương Quang đã được báo chí kịch trường và khán giả tán thưởng tài nghệ của anh qua các tuồng “Hai Chiều Ly Biệt”, “Song Long Thần Chưởng”, “Huyết Phiến Lôi Phong”, “Mặt Trời Đêm”, “Người Nhạn Trắng”, “Ảo Ảnh Châu Bích Lệ”, “Sương Gió Biệt Vương Cung”.

Phương Quang có làn hơi trầm ấm, cách nhã chữ ngân nga gợi cảm. Lối ca chân phương đôn hậu như lối ca của nghệ sĩ Út Trà Ôn nhưng Phương Quang tự nhận là anh không hề bắt chước Út Trà Ôn. Anh ca bằng sự rung cảm của con tim, tùy theo câu văn, tùy theo ý nghĩa từng đoạn vọng cổ, anh ngắt hơi hay chạy chữ cũng chỉ vì muốn ca lên được nội dung của bài ca. Và vô tình cách ca cùng sắp chữ của Phương Quang theo thể thức của bậc đàn anh Út Trà Ôn.

Năm 1966, nghệ sĩ Phương Quang và nghệ sĩ Phượng Liên, hai học trò của nghệ sĩ lão thành Kim Chưởng cùng đoạt được hai huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1966.

Nghệ sĩ Phương Quang rất được thính giả ái mộ qua các bản vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu”, “Ông Lão Chèo Đò”, “Gánh Nước Đêm Trăng”…Dù mang giọng ca âm hưởng của đệ nhất danh ca Út Trà Ôn nhưng tuyệt nhiên giọng ca của Phương Quang không phải là bắt chước, mà đây là giọng hát chân phương, mộc mạc rất độc đáo, với lối sắp cây, nhã chữ tinh tế và quyến rũ người nghe.

Trong các chương trình phát sóng của các đài truyền hình Bình Phước, Cần Thơ, Saigòn, tiết mục Đờn Ca Tài Tử, Vầng Trăng Cổ Nhạc… nghệ sĩ Phương Quang vào vai ông Hai Tri Kỷ rất được khán thính giả ham mộ về giọng ca khoẻ khoắn và đôn hậu của Phương Quang, thể hiện tính cách chân thật của người dân miệt vườn vùng sông nước Hậu Giang.

Khi đoàn hát hát ở Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Mỹ Tho, Sông Bé, những địa phương có nhiều hội đờn ca tài tử địa phương, đoàn hát được mời tham gia đờn ca hòa điệu vui chơi với người địa phương thì luôn luôn Phương Quang là người xung phong ca trước, làm gạch nối tình cảm hữu hiệu giữa nghệ sĩ trong đoàn và ca nhạc sĩ địa phương.

Sau năm 1975, Phương Quang về hát cho đoàn Trần Hữu Trang, đóng cặp với nữ nghệ sĩ Thanh Vu, tuồng “Nàng Xê Đa”, Phương Quang trong vai Hoàng Tử Rim.

Phương Quang có làn hơi trầm ấm, cách diễn chững chạc bộc lộ được cái hào khí của nhân vật, vừa ung dung đĩnh đạc, vừa tỏa sáng vẻ hùng dũng oai phong nên Phương Quang hát rất thành công các nhân vật anh hùng như Quang Trung Nguyễn Huệ trong Tiếng Sóng Rạch Gầm, vai anh hùng Lê Lợi, vai hoàng tử Rim.

Nghệ sĩ Phương Quang được mời đi hát ở nước Pháp hai lần nhân dịp Hội Người Việt tổ chức Tết. Sau này tình hình sân khấu cải lương sa sút, anh ít xuất hiện trên sân khấu rạp hát thành phố. Anh thỉnh thoảng đi ca show ở các tụ điểm văn hóa hay đôi khi đi hát tăng cường các đoàn hát tỉnh.

Gia đình hạnh phúc gương mẫu

Về gia đình thì năm 1972, nhân dịp Phương Quang thu hình tuồng cải lương trên đài truyền hình, một nữ khán giả ái mộ anh, đến trò chuyện. Anh bị tiếng sét ái tình nên nhiều lần tìm cách gợi chuyện với người nữ khán giả khả ái đó. Một năm sau tình yêu đơm bông kết trái, Phương Quang và cô Hương chánh thức thành hôn với nhau. Chị là người sồng ngoài nghề hát nhưng chính là người tận tâm tận lực giúp cho chồng có phương tiện và cơ hội để đeo đuổi theo sự nghiệp sân khấu.

Có khoảng thời gian sân khấu mất khán giả, gánh hát không hát được, kinh tế gia đình gặp khó khăn, chị Hương phải chạy lo cho gia đình từng bữa ăn mà không hề than van nửa lời. Chị làm nhơn viên kế toán rồi chuyển sang buôn bán, vượt qua cực khổ để làm bổn phận người vợ hiền.

Nay thì kinh tế gia đình ổn định, không phải lo nhiều như trước kia, chị quyết lo cho con học đến nơi đến chốn. Con gái lớn, Quế Phương đã tốt nghiệp đại học kinh tế và làm ở một công ty nông sản xuất, con trai Quang Bảo cũng đã tốt nghiệp lớp 12.

Có thể nói gia đình của Phương Quang hạnh phúc ấm êm, không có chuyện gì xáo trộn, có thể kể là một trong những gia đình nghệ sĩ gương mẫu về sự thủy chung, tình yêu và sự hy sinh phần cá nhơn riêng để chăm sóc lẫn nhau.

Từng ở đỉnh cao, ông cũng nhiều lần nhận ra sự bạc bẽo của nghiệp xướng ca. Ông không khuyến khích hai con theo nghề ca hát. Từ nhỏ, các con được ông đặt mục tiêu phải có tấm bằng đại học. Khi trưởng thành, cô con gái lớn làm cho một công ty ở TP HCM, cậu con trai theo nghề dạy ngoại ngữ. Những năm gần đây, khi Phương Quang bị ảnh hưởng trí nhớ, con trai ông mới giấu ông lén đi học hệ trung cấp không chính quy của Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang. Anh vừa tốt nghiệp cách đây vài ngày.

Đến cuối đời, Phương Quang cũng không biết con trai sẽ nối nghiệp ông. Anh Quang Bảo muốn tiếp tục công việc ca hát của cha như một nghề tay trái, bởi với gia đình anh, ca hát đã là nghiệp dĩ

Cố nghệ sĩ Phương Quang qua đời và di nguyện hiến xác, để lại niềm thương tiếc về một giọng ca, nhân cách đẹp trong lòng gia đình, đồng nghiệp.

Gần 60 năm theo nghiệp xướng ca, Phương Quang ghi dấu với một kho tàng đồ sộ những vai diễn đáng nhớ, lối hát chân phương, mộc mạc cùng hình dung khó phai về một nghệ sĩ mẫu mực của làng cải lương.

Cố NSƯT Phương Quang.

Cố NSƯT Phương Quang.

Với đồng nghiệp, điều đọng lại sau cùng về Phương Quang là nụ cười hiền từ, giọng nói sang sảng, chậm rãi đậm chất Nam bộ. Khi hay tin ông qua đời, nghệ sĩ Thanh Vy hồi tưởng thuở cả hai mới gắn bó ở Nhà hát Trần Hữu Trang. Lúc ấy, bà từ Bắc vào, còn lạ lẫm, ngại ngùng với lối xử sự, trò chuyện với đồng nghiệp mới. Phương Quang giúp bà xóa nhòa khoảng cách, hòa nhập với đoàn hát nhanh hơn.

Con trai Phương Quang – anh Quang Bảo – kể đức tính nhân hậu, luôn suy nghĩ cho người khác của cố nghệ sĩ đã ăn sâu trong máu ông, ngay cả khi ông lâm trọng bệnh. Đầu những năm 2000, Phương Quang chật vật điều trị bệnh gan. Sau khi khỏi, não ông bắt đầu tổn thương, teo dần do tác dụng phụ của thuốc. Biết rõ bệnh mình dẫu chữa trị cũng không đi đến đâu, ông và vợ làm thủ tục xin hiến xác. Vợ chồng cố nghệ sĩ vốn thông suốt ý niệm về sinh – tử, chỉ mong tiếp tục đóng góp cho xã hội sau khi mất. Tâm nguyện của vợ chồng ông được các con nhất loạt đồng tình.

“Tôi và chị đều hiểu rõ tính của cha. Ông sống giản dị, tiết kiệm, luôn nhường nhịn mọi người. Trước lúc mất, ông vẫn muốn cái chết của mình có thể phục vụ cho sự sống”, anh Bảo chia sẻ.

Nhan sắc ‘sầu nữ’ Út Bạch Lan một thời

Thời trẻ, cố Nghệ sĩ Ưu tú sở hữu nét duyên say đắm với đôi mắt huyền biết cười, bờ môi đầy đặn và khuôn mặt phúc hậu.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi

Nghệ sĩ Ưu tú Út Bạch Lan (1935-2016) quê gốc Long An. Từ một cô bé hát rong (cùng với người anh thân thiết là nghệ sĩ guitar Văn Vĩ) trên đường phố Sài Gòn xưa, giọng hát hay trời phú đã giúp bà được cô Năm Cần Thơ – một nghệ sĩ cải lương lừng danh thời bấy giờ – tìm gặp và mời đến đài phát thanh Pháp Á thu âm. Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, Út Bạch Lan được nhiều khán giả biết đến và yêu quý với giọng hát, nhan sắc say đắm lòng người. Bà nằm trong số diễn viên trụ cột nhiều đoàn hát lớn nhỏ thời bấy giờ như đoàn Kim Khánh (bầu Cang), sân khấu Thanh Minh, Kim Chưởng…

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-1

Thuở đôi mươi, Út Bạch Lan được xem là một trong những mỹ nhân của làng sân khấu Sài Gòn. Trong các bức ảnh chân dung thời trẻ, “sầu nữ” có khuôn mặt phúc hậu, bờ môi mọng quyến rũ, làn da mịn màng. Đôi mắt huyền với đuôi mắt dài là nét cuốn hút trên khuôn mặt bà.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-2

Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, ở nhà gọi là bé Út. Nhưng từ khi được mời về thu âm và ký hợp đồng với đài phát thanh Pháp Á, bà được chọn cho nghệ danh là Bạch Lan (thời đó có một giọng hát nổi tiếng khác có tên theo loài hoa là nghệ sĩ Bạch Huệ). Bà thêm chữ Út vào đầu nghệ danh để nhớ về cái tên gắn liền với tuổi thơ.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-3

Út Bạch Lan là nghệ sĩ cần mẫn, ham học hỏi. Bà luôn ý thức trau dồi khả năng diễn xuất, trau chuốt lời ca, nghe theo lời chỉ dạy của các nghệ sĩ đi trước, trong đó có người thầy bà biết ơn sâu sắc là cố soạn giả, Nghệ sĩ Nhân dân Viễn Châu – người uốn nắn cho bà từ khi bước vào nghề.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-4

Út Bạch Lan luôn làm người xem cải lương thổn thức với giọng hát được báo chí thời đó miêu tả là: “Một giọng ca vọng cổ thảm sầu, bứt ruột bứt gan người nghe”. Chuyên trị những vai đào thương với các nhân vật có số phận éo le, đau khổ, bà là nữ nghệ sĩ được giới cải lương và báo chí tặng nhiều danh xưng nhất, như “Bức trường thành vọng cổ”, “Nữ hoàng vọng cổ”, “Đệ nhất đào thương”, “Nữ hoàng sầu muộn”, “Sầu nữ Út Bạch Lan”, “Sầu nữ liêu trai”, “Vương nữ sương chiều”…

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-5

Hình ảnh hoa lan thanh tao, mỏng manh với mùi hương dịu dàng như vận vào cuộc đời của nữ nghệ sĩ. Cố soạn giả Viễn Châu từng viết bài vọng cổ “Hoa lan trắng” dành tặng riêng Út Bạch Lan, trong đó gói ghém những tâm tư của người phụ nữ nổi danh trên sân khấu nhưng truân chuyên, lỡ làng tình duyên.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-6

Đầu thập niên 1960, khi cùng hoạt động ở đoàn Kim Chưởng, Út Bạch Lan và nghệ sĩ Thành Được nên duyên vợ chồng. Cố soạn giả Viễn Châu từng chia sẻ đó là một đám cưới long trọng, đàng trai do nghệ sĩ Phùng Há chủ hôn, còn đại diện đàng gái là bà bầu Kim Chưởng.
Nhưng vốn là một kép hát đào hoa, Thành Được có nhiều bóng hồng vây quanh. Khoảng ba năm sau, hai người chia tay khi chưa có con chung. Câu chuyện bà nén nỗi đau để nhận nuôi các con riêng của chồng thường được người trong giới, khán giả kể lại với sự kính trọng dành cho người vợ nhẫn nhịn.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-7

Sau năm 1975, nghệ sĩ Út Bạch Lan vẫn bền bỉ hoạt động nghệ thuật, biểu diễn ở nhiều đoàn hát, trong đó có các đoàn như Sài Gòn 1, Long An… Theo thời gian, bà vẫn giữ được nét đẹp hồn hậu, thanh tao ngày nào, giọng hát ngày càng chín muồi. Trong sự nghiệp biểu diễn, bà gắn bó với hơn 20 đoàn hát lớn nhỏ, có khoảng 200 vai diễn từ sân khấu cho đến video cải lương, thu âm vô số bản vọng cổ, tân cổ giao duyên…

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-8

Ở tuổi xế chiều, nữ nghệ sĩ sinh năm 1935 luôn được khen đẹp lão. Dẫu tóc bạc, lưng còng, khuôn mặt bà vẫn lưu giữ đường nét của thời xuân sắc với ánh mắt biết cười, vẻ mặt hồn hậu và phong cách dịu dàng. Hơn 60 năm gắn bó với sân khấu, khoảng 70 năm gắn chặt tình yêu với cải lương, vọng cổ, bà không chỉ là một trong những chứng nhân cho giai đoạn thăng trầm của cải lương mà còn là nhân tố quan trọng góp phần tạo diện mạo của môn nghệ thuật này.

nhan-sac-sau-nu-ut-bach-lan-mot-thoi-9

“Sầu nữ” qua đời tối 4/11/2016 ở nhà riêng tại TP HCM sau thời gian chống chọi với bệռh uռg thư gaռ, hưởng thọ 81 tuổi. Linh cữu bà được quàn tại chùa Ấn Quang, quận 10. Lễ động quan lúc 7h sáng ngày 8/11 sau đó linh cữu được đưa đi hỏa táng ở Bình Hưng Hòa.