Chuyện một người nhắc tuồng

0
50

Nghề nhắc tuồng là công việc không thể thiếu ở tất cả các đoàn hát. Người làm nghề này chịu nhiệm vụ “cứu bồ” cho diễn viên trên sân khấu, bởi dù đã thuộc tuồng làu làu, thì đôi khi nghệ sĩ vẫn gặp sự cố… quên tuồng.

Nhiều năm rồi, dường như cái tên cúng cơm lẫn nghệ danh Châu Thành Nhân đã chẳng còn mấy ai nhớ đến, nhưng khi nhắc biệt danh “Vịt mũ” thì hầu hết người làm sân khấu, nhất là cải lương sẽ nhớ ngay đến hình ảnh người nhắc tuồng có dáng vẻ gầy gò, khắc khổ, nhưng lại rất nhanh nhẹn, sáng ý này.

“Tổ biểu nhắc tuồng thì đi nhắc tuồng!”

Dấn thân vào nghiệp cầm ca và trở thành người nhắc tuồng cũng đều là duyên may tình cờ của Châu Thành Nhân. Gia đình anh không có truyền thống nghệ thuật, nhưng lại có người em trai có máu văn nghệ hay giao du với nghệ sĩ rồi được rủ theo đoàn hát. Một ngày, Châu Thành Nhân cũng bị cậu em “dụ” đi hát khi đoàn đang thiếu quân sĩ đánh võ. Khăn gói theo gánh hát và ôm mộng trở thành nghệ sĩ, buổi tập đầu tiên của anh vào ngày 17/8/1997 là tuồng Long Tuyền soi ánh nguyệt ở đoàn cải lương Hương Bưởi.

“Mơ thành nghệ sĩ, không có vốn liếng nghề thì mình học, từ quân sĩ mà đi lên”, Châu Thành Nhân theo cố nghệ sĩ Chiêu Hùng học ca diễn, theo nghệ sĩ Bạch Long học vũ đạo, theo thầy đờn Duy Khôi học nhạc lý… Khoảng năm 2002, Nhân về đoàn Vũ Luân và vẫn khiêm tốn với vai trò quân sĩ hoặc những vai diễn rất nhỏ. Lần đó, đang tập vở Giang sơn mỹ nhân, người nhắc tuồng chính của đoàn chưa đến kịp mà người nhắc thế thì “nói không ra hơi”, thế là anh chàng chuyên sắm vai quân sĩ bèn giành lấy cuốn tuồng rồi dõng dạc: “Để tui nhắc cho!”.Một lần “tài lanh” bỗng thành “nghiệp”, Châu Thành Nhân trở thành người nhắc tuồng chính cho đoàn Vũ Luân kể từ đó. Điều làm anh vui mừng nhất là được tăng lương từ mức 40.000 đồng/suất của quân sĩ lên 100.000 đồng/suất cho công việc nhắc tuồng ở thời điểm đó.“Đã theo gánh hát thì ai cũng mong được tỏa sáng trên sân khấu.

Tôi cũng băn khoăn, liệu lựa chọn của mình có đúng hay không?

Nghề này vốn tâm linh lắm. Trong nghề có truyền bài Tứ thiên vương, mà chỉ cần học thuộc thì ra hát vai nào cũng được. Tôi tự tin mình có trí nhớ tốt, ba ngày đã thuộc làu một cuốn tuồng, có thể nhắc mà không cần nhìn kịch bản. Vậy mà suốt nửa tháng trời tôi vẫn không tập được bài Tứ thiên vương, cứ thuộc trước quên sau. Nhiều anh chị, cô chú trong nghề lắc đầu nói: “Chắc Tổ không cho hát rồi”. Nếu Tổ không ưng tôi đứng trên sân khấu, thì tôi làm việc sau hậu trường. Tôi vẫn được sống với nghề và được nghề ghi nhận, âu cũng là hạnh phúc”, Châu Thành Nhân bộc bạch.“Chỉ mong nghệ sĩ thuộc tuồng”Nghe qua tưởng nghịch lý, nhưng đó lại là điều mong mỏi của những người nhắc tuồng. “Chỉ khi thuộc tuồng, không phải phụ thuộc vào nhắc tuồng, thì người nghệ sĩ mới có thể hát hay được. Và người nhắc tuồng chỉ nên ở vai trò cứu nguy khẩn cấp đảm bảo an toàn cho vai diễn mà thôi”, Châu Thành Nhân nói.“Trên sân khấu có nhiều tình huống bất ngờ, nên nhiều nghệ sĩ dù rất thuộc tuồng vẫn cần người nhắc tuồng luôn ở đó, như một sự hỗ trợ tinh thần. Đôi khi chỉ quên một chữ thôi, nhưng nếu không có nhắc tuồng “cứu bồ” kịp thời, thì rất dễ làm gãy tâm lý vai diễn cũng như cảm hứng của diễn viên. “Em thuộc tuồng rồi nhưng anh cứ đứng đó đi, nhìn thấy anh, em hát cũng an tâm hơn” – nhiều nghệ sĩ đã nói với tôi như thế, cảm thấy ấm lòng lắm…”, Châu Thành Nhân chia sẻ.

Châu Thành Nhân nhớ mãi lần nhắc vở Tình mẫu tử khi cố NSND Phương Quang và danh hài Bảo Chung phải thế vai khẩn cấp cho NSND Diệp Lang và danh hài Hồng Tơ, dù cả hai đều chưa từng diễn các nhân vật này trước đó. Từ lúc hóa trang, Nhân đã luôn ở bên cạnh họ, vừa đọc tuồng vừa nhắc đường dây vở diễn.Suốt buổi diễn, anh vừa nhắc ca thoại, vừa nhắc hành động, diễn xuất cho cả hai nghệ sĩ thế vai. “Vở diễn trót lọt! Kéo màn, chú Phương Quang quay vào cánh gà và ôm tôi. Đó là phần thưởng lớn nhất đối với một người nhắc tuồng, công việc thầm lặng của mình thực sự đóng góp cho thành công của vở diễn”, Châu Thành Nhân không giấu xúc động.Hơn chục năm trước, người nhắc tuồng cũng “hao hơi tốn sức” không kém gì nghệ sĩ, khi từ trong cánh gà nhắc vọng ra, không ít lần phải gào át cả tiếng nhạc nếu diễn tuồng cổ, giờ thì họ đã có thể nhàn hạ tìm một góc thoải mái mà ung dung nhắc bài thông qua máy nhắc tuồng.“Tuy nhiên lợi bất cập hại, đôi khi máy bị lạc sóng, nghệ sĩ không nghe được, không xử lý kịp là tôi bị quở ngay. Vì vậy, vẫn phải thường xuyên theo sát nghệ sĩ, thấy nghệ sĩ ra hiệu hay tháo máy nhắc là nhào ra cánh gà nhắc kiểu truyền thống liền, đôi khi tôi còn phải nằm bò dưới sàn sân khấu, bám vào các cảnh trí suốt buổi diễn để giúp phần trình diễn của người nghệ sĩ thật tròn vẹn”, Châu Thành Nhân hóm hỉnh kể.

So với thời làm quân sĩ thì trở thành người nhắc tuồng chuyên nghiệp không chỉ giúp Châu Thành Nhân tăng thu nhập, mà đôi khi anh cũng cho mình “quyền được chảnh”. “Điều tôi cần nhất là sự đối xử công bằng với những người ở đằng sau sân khấu. Những người nhắc tuồng, phục trang, quân sĩ… chúng tôi dĩ nhiên không thể nhận thù lao như nghệ sĩ ngôi sao, nhưng cần có sự công bằng tối thiểu và phải được tôn trọng.Có những suất diễn tôi không cần nhận đồng nào vì trân trọng tấm lòng người làm nghề, nhưng cũng có khi tôi “hét giá” vì ghét những kẻ cơ hội, chỉ trục lợi…”, Châu Thành Nhân thẳng thắn bày tỏ.Dù chọn “nghề nhắc tuồng”, nhưng diễn xuất vẫn là niềm đam mê của Châu Thành Nhân, anh luôn chắt chiu từng cơ hội nhỏ để có thể đứng trên sân khấu, trước máy quay, cũng như không ngừng học hỏi từ những nghệ sĩ mình thần tượng.“Tôi coi đi coi lại Tô Ánh Nguyệt để nghe má Hồng Nga như rút ruột, hớp hồn người nghe.

Tôi cũng thường xuyên mở lại các băng đĩa có thầy Bạch Long, nhìn động tác quăng giáo của thầy khi diễn Phạm Cự Chích vở Bão táp Nguyên Phong… Tôi xem để học ca diễn, cũng để ra nhắc tuồng cho chắc…”, Châu Thành Nhân bộc bạch, với anh, người nhắc tuồng không chỉ là nhắc nghệ sĩ nhớ bài, mà còn dẫn cảm xúc, hỗ trợ nghệ sĩ thăng hoa trong ca diễn.

Châu Thành Nhân nhắc tuồng cho các nghệ sĩ tập vở Thái hậu Dương Vân Nga Châu Thành Nhân nhắc tuồng cho các nghệ sĩ tập vở Thái hậu Dương Vân Nga

Với người nhắc tuồng chuyên nghiệp việc đọc dò, nghiên cứu kịch bản là không thể thiếu.Với người nhắc tuồng chuyên nghiệp việc đọc dò, nghiên cứu kịch bản là không thể thiếu.

Với người nhắc tuồng chuyên nghiệp việc đọc dò, nghiên cứu kịch bản là không thể thiếu. Với người nhắc tuồng chuyên nghiệp việc đọc dò, nghiên cứu kịch bản là không thể thiếu.

NSND Thanh Hải: Đời thầy đờn như khúc nhạc nỉ non

NSND Thanh Hải cười khà khà khi nhắc về những ngày tháng ông chu du khắp bốn phương trời, trình diễn cho bạn bè quốc tế thưởng thức. Cái điệu cười đôn hậu, nghe trong đó có sự lạc quan, yêu đời của một thầy đờn trải nghề, tận hiến.

Khúc nhạc đời trầm bổng

Cuộc trò chuyện với NSND Thanh Hải (sinh năm 1957) – thầy đờn nức tiếng của nghệ thuật cải lương – bắt đầu từ việc ông trải lòng về hai chữ “hào quang” của người nghệ sĩ. Ông nói trong nghệ thuật, dù nổi tiếng hàng đầu hay không được nhiều người biết đến, thì ít hay nhiều, mỗi nghệ sĩ đều có cho mình vùng hào quang riêng. Điều quan trọng, là có những người tài sinh ra hợp thời, lại gặp thêm may mắn, có người hụt mất đôi ba phần vì ngoại cảnh. Trong những yếu tố vừa nêu, NSND Thanh Hải nói bản thân ông gặp may phần nhiều, ông bảo không phải mình khiêm tốn mới nói thế, mà vì ông may mắn thật.

NSND Thanh Hải kể từ ngày đầu đến với âm nhạc, ông đã được gặp những thầy đờn giỏi “thần sầu” của nghệ thuật cải lương ngày đó. Ông nhớ thời còn bé, chỉ mới sáu, bảy tuổi hay ngồi nghe đài phát thanh, hễ thấy ai ca cải lương là tự khắc giai điệu, lời ca vang vọng bên tai rồi thấm vào đầu, nhẹ nhàng như không.

NSND Thanh Hải trình diễn tại chương trình Dấu ấn huyền thoạiNSND Thanh Hải trình diễn tại chương trình Dấu ấn huyền thoại

Ngày đó ông ở Hải Phòng xa xôi nên không có cơ hội được tận mắt chứng kiến những thầy đờn miền Nam chơi nhạc. Cho đến một ngày, chị gái ông là nghệ sĩ Kim Hà, làm việc ở Đài Phát thanh Giải Phóng, nói rằng có “mấy thầy từ trong Nam ra, đàn hay lắm” nên gia đình vội sắp xếp, gửi ông theo học lớp của thầy Út Du – một thầy đờn có tiếng thời bấy giờ.
Sau sự dìu dắt của người thầy đầu tiên, NSND Thanh Hải được vợ chồng NSƯT Thanh Hùng, nghệ sĩ Ngọc Hoa đưa đường, chỉ lối. “Lúc đó, tôi nhớ mình khoảng 11, 12 tuổi. Anh Thanh Hùng biết được năng khiếu của tôi. Anh mở những băng nhạc của mấy thầy đàn trong miền Nam cho tôi xem. Tôi nghe chú Văn Vĩ, Văn Giỏi, nghe bác Năm Cơ, bác Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu… Tôi nghe suốt hai, ba tháng rồi âm nhạc cứ thế ăn sâu vào máu”, NSND Thanh Hải
chia sẻ.

Thời của NSND Thanh Hải là thời của những đứa trẻ đùm túm theo gia đình mỗi khi sơ tán. Chúng chẳng biết làm gì ở vùng đất mới, nên mỗi đứa tìm một trò giải khuây. Trò của cậu nhóc mê âm nhạc Thanh Hải là tìm bụi trúc, chặt một đoạn trúc đẹp để đục làm sáo thổi, chơi chán lại ra cây đu đủ lấy một cành lá, chặt gọn rồi khoét lỗ thổi chơi. Năm tháng đó chẳng ai nghĩ rồi sau này, đứa trẻ vô tư, hồn nhiên ấy trở thành thầy đờn nức tiếng.

Sau thời gian học hỏi từ một số thầy giỏi, NSND Thanh Hải bước lên những sân khấu đầu tiên. Ông bảo mình thuộc dạng liều lĩnh, vì với những ai biết lượng sức mình, không người nào đi trình diễn, thu thanh chuyên nghiệp khi chỉ mới tập tành như ông. Vậy mà chàng trai 17 tuổi đã dễ dàng chinh phục được người nghe khi mang đến làn gió mới, khiến khán giả xôn xao không biết ai mà dù là người miền Bắc nhưng lại có ngón đờn nức nở, nghe ra điệu của người miền Nam.

Rồi thời gian dần qua, NSND Thanh Hải miệt mài học hỏi thêm các loại nhạc cụ để vừa thỏa tính tò mò, ham học, vừa thỏa đam mê âm nhạc đang ngày một lớn. “Hồi đó, ba dạy tôi đàn tranh. Trước khi học đàn tranh, tôi đã biết chơi violin. Sau này, tôi học thêm guitar, đàn bầu, đàn kìm…

Người khác chơi được thì tôi nghĩ mình cũng có thể chơi được, rồi tự học là chính. Tôi hay bảo mình may mắn, không phải tôi khiêm tốn mà có nhiều lý do. Tôi thấy nhiều người đam mê, theo đuổi nghề, nhưng điều kiện không cho phép. Còn tôi, mọi thứ có phần thuận lợi hơn đôi chút. Tôi có cơ hội ngồi chơi đờn với những thầy đờn giỏi bậc nhất thời bấy giờ, và nhiều cơ may khác xảy đến một cách tự nhiên. Đương nhiên, tôi có sự mong cầu, có khả năng, nhưng tôi vẫn thấy mình may mắn lắm!”, ông chia sẻ.

Mang tiếng nhạc vượt trùng dương

Theo lời của NSND Thanh Hải, từ năm 1976 đến năm 1978 là thời kỳ cực thịnh của sân khấu cải lương, và nghiệp thầy đờn của ông cũng vào thời đỉnh cao, được săn đón. Nam nghệ sĩ bảo thời kỳ này, vô tuyến truyền hình không nhiều chương trình, phim đen – trắng đến 21 giờ là hết, chỉ có các sân khấu sáng đèn mỗi đêm mà không đêm nào không có khách.

Hình ảnh NSND Thanh Hải thời còn trẻ

Hình ảnh NSND Thanh Hải thời còn trẻ

“Ngoài TP.HCM, các tỉnh đều có một, hai đoàn cải lương, hoặc ít nhất cũng một đoàn phục vụ bà con. Đêm nào đoàn cũng diễn, chỉ nghỉ tối thứ Hai để chuyển bến. Thời đó, tôi đàn ở Đoàn văn công TP.HCM, có chị Lệ Thủy, anh Thanh Tuấn, chị Mỹ Châu… hát mỗi tối. Ngoài đàn tại đây, tôi thu cho đài phát thanh, hãng đĩa. Tiền lương giai đoạn này không cao, nhưng so với đời sống thời bấy giờ, cuộc sống chúng tôi rất ổn định”, NSND Thanh Hải cho biết.

Vào những năm 1980, NSND Thanh Hải và NSND Văn Giỏi trở thành cặp nghệ sĩ được yêu thích khắp các miền vì nhiều bài hòa tấu đỉnh cao như Vọng kim lang, Phi vân điệp khúc, Đoản khúc lam giang… Thời kỳ này, NSND Thanh Hải cũng gây dấu ấn ở vai trò nhạc sĩ.

“Bắt đầu từ năm 1985, tôi viết nhạc nền cho các đoàn tỉnh. Lúc đó, các đoàn dựng một tuồng cải lương có thể hát hai đến ba tháng, nhưng đoàn nào cũng muốn dựng thêm nhiều tuồng mới để thu hút khán giả. Nhiều đoàn mời tôi đến để viết nhạc. Tôi ở đoàn này một thời gian, viết xong lại chạy sang đoàn khác. Cho đến nay, tại những kỳ thi Liên hoan Sân khấu Cải lương chuyên nghiệp toàn quốc, có năm tôi viết nhạc cho cả chục đoàn biểu diễn”, ông nói thêm.

NSND Thanh Hải cần mẫn làm việc không chỉ với nghệ thuật cải lương, mà ông còn tìm tòi, mang cải lương hay nói rộng hơn là âm nhạc truyền thống kết hợp với tân nhạc, tạo ra những sáng tạo mới. Việc tự học của NSND Thanh Hải là bài học lớn mà nghệ sĩ thế hệ sau có thể lấy ông làm gương về chuyện muốn tài giỏi, trước nhất phải đi từ nỗ lực của bản thân. NSND Thanh Hải học “lỏm” cách sáng tác của giáo sư – tiến sĩ Quang Hải, phó giáo sư – nhạc sĩ Ca Lê Thuần, nghệ sĩ Thanh Tùng… Ông cứ nhìn tổng phổ rồi mon men làm theo, đến khi biết được đường đi nước bước lại học thêm để mang cái tinh túy của nghệ thuật cải lương thử nghiệm cùng boléro, gắn với tuồng, chèo hay ca Huế… Với ông, cải lương có thể biến hóa nhiều hơn nếu người nghệ sĩ cởi mở, ham tìm tòi, sáng tạo để mang đến “món ăn” tinh thần mới lạ cho khán giả.

Trong sự nghiệp hơn 45 năm của NSND Thanh Hải, có hai thời điểm ông hân hoan với nghề nhất, là lúc sân khấu đang trong thời kỳ hoàng kim, và khi tham gia trong ê-kíp thực hiện vở diễn xiếc nghệ thuật À ố show. Ông nói thời hoàng kim là lúc bản thân và anh em đồng nghiệp bận rộn, cùng lao động hăng say nên nhớ mãi. Còn với À ố show từ năm 2013 cho đến trước thời điểm dịch COVID-19 tác động, đây là lúc ông thấy được giá trị của bản thân, và vui mừng vì âm nhạc truyền thống đã vượt trùng dương, chinh phục được khán giả quốc tế.

À ố show đã trở thành chương trình nghệ thuật có thương hiệu với thế giới. Chẳng phải tôi tham gia nên khen, mà chính những người thực hiện đã có cách phối kết hợp nhiều hình thức, tạo nên một sản phẩm nghệ thuật vừa mang giá trị truyền thống, vừa đậm hơi thở hiện đại. Khán giả tại các quốc gia khác, họ tán thưởng vô cùng”, NSND Thanh Hải vui mừng kể lại.

Xen lẫn trong sự hồ hởi về chuyện âm nhạc truyền thống đã vượt trùng dương, NSND Thanh Hải trăn trở về chuyện nối nghề, truyền nghiệp. Ông bảo câu chuyện này chẳng còn mới để luận bàn xôn xao, nhưng ngẫm mà buồn, vì một mai, khi thế hệ gạo cội chẳng còn mà tìm cũng không mấy ai ở lớp kế thừa thì chắc kho tàng quý giá sẽ mai một. Ông bảo 30 năm qua, khi sân khấu cải lương khó khăn, thì cũng chừng ấy thời gian, ông có nhận dạy vài học trò nhưng rồi cũng vơi bớt. Bây giờ, học trò nào đến ông cũng nhận dạy, nhưng học xong rồi liệu trò đi đâu, về đâu mới là điều quan trọng.

“Mảnh đất nghệ thuật truyền thống màu mỡ, tôi nghĩ trồng cây nào trái cũng sai, nhưng chúng ta ít ươm trồng. Phần là do quá ít người chuộng, phần do công người chăm chưa biết cách nên rồi đến người tâm huyết truyền nghề nhất cũng thấy mỏi mòn, hỏi đến khi nào mới thấy được vườn xanh?”, NSND Thanh Hải bộc bạch.