Nghệ sĩ Tô Kiều Lan : Nữ tài danh chuyên diễn Độc, Lẳng, Hài

0
464

Nghệ sĩ Tô Kiều Lan, một nữ tài danh chuyên diễn các vai độc, độc lẳng, đến năm cô được 50 tuổi, cô mới chuyển qua diễn vai hài và đã thành công một cách rực rỡ.

Qua hơn 80 năm, sân khấu cải lương đã sản sinh ra rất nhiều diễn viên hài nổi danh, khán giả hôm nay còn nhắc đến các danh hài Ba Du, Tư Xe, Năm Định, Tám Củi, Hề Lập, Ba Vân, Tám Lắm, Hề Tỵ, Hề Bảy Xê, Hoàng Mai, Hề Giác, Tư Rọm, Kim Quang, hề Lòng, hề Văn Núi, Châu Hí, Văn Chung, Văn Hường, Hề Minh, Thanh Việt, Khả Năng, Hề Sa, hề Vui Tươi, hề Vũ Đức, Giang Châu, Việt Anh, Lê Vũ Cầu, v.v…

Lại có những danh hài nữ cũng được khán giả ưa thích như nữ hề Bé Bự, hề Bé Hoàng Vân, Hồng Nga, Ngọc Giàu, Kim Ngọc, Tô Kiều Lan, Kiều Mai Lý, Mai Lan, Mỹ Chi, Hồng Vân, Thu Tuyết, Thúy Nga, Kiều Oanh, Mai Thanh Dung…

Mỗi danh hề có một lối diễu riêng, một khả năng ứng biến thiên phú. Phần lớn các danh hề nữ đều là những diễn viên chánh chuyên diễn các vai đào mùi, đào lẵng, đào độc, sau đó do nhu cầu của sân khấu các cô mới chuyển qua diễn hài.

Trong chương trình cổ nhạc hôm nay, Nguyễn Phương xin giới thiệu Tô Kiều Lan, một nữ tài danh chuyên diễn các vai độc, độc lẳng, đến năm cô được 50 tuổi, cô mới chuyển qua diễn vai hài và đã thành công một cách rực rỡ.

Nữ nghệ sĩ Tô Kiều Lan tên thật là Đoàn Thị Kim Lang, sinh năm 1943, quê quán ở Gò Đen, quận Bình Chánh, Saigon. Song thân của cô là ông Lê Văn Hỷ và bà Đoàn Thị Tư, sinh sống bằng nghề nông, đã qua đời. Tô Kiều Lan là em Út trong gia đình vớì 12 anh chị em sống với nghề khác, chỉ có cô là theo nghề hát cải lương.

Vào nghề từ một ɫai иạи

Gia đình của Tô Kiều Lan ở đường Hậu Giang, quận 6, cô học tiểu học trường Trường Cây Gỏ. Cô mê ca cổ nhạc nên theo các nhóm đờn ca tài tử để học ca và đi ca ở các đám tiệc. Lúc đó ông Lê Văn Quý lập đoàn xiếc tạp kỹ, để phụ diễn xiếc và ảo thuật trước khi đoàn hát hát tuồng cải lương.

Đêm đó cô gάι đứng cho diễn viên phóng dασ вị bịnh, ông Lê Văn Quý ɫɦu nɦậп Tô Kiều Lαn vào Ban xiếc để thế vai cho cô gάι đó.

Lúc đó ban xiếc Lê Văn Quý diễn trên sân khấu đoàn hát Minh Hùng – Hoàng Sương. Khi vào đoàn hát, Tô Kiều Lan ca vọng cổ chơi với các diễn viên trong đoàn, giọng ca của cô ngọt ngào, làn hơi khoẻ khoắn, được các nghệ sĩ khen ngợi nhất là soạn giả Tứ Lang.

Ɫai иạи xảy ra trong màn diễn phóng dασ, một mũi dασ ghim иgαy đùi của Tô Kiều Lαn kɦiếп cho màn phụ diễn xiếc ρнảι ngưng lại. Hôm sau, soạn gιả Tứ Lang khuyên cô nên theo đoàn hát cải lương thì có tương lαι hơn là theo đoàn Xiếc, cɦỉ đứng làm вια̣ cho người ta phóng dασ.

Tô Kiều Lan gia nhập đoàn hát Minh Hùng – Hoàng Sương, soạn giả Tứ Lang và nhạc sĩ Tư Sơn dạy cho cô ca hát và đặt nghệ danh là Kiều Lan.

Đó là năm 1960, đoàn hát có các diễn viên Hoàng Sương, Thu Vân, Như Ngọc, Kim Xuyến (vợ của nghệ sĩ Thành Được), Tấn Phước, hề Nam Thanh. Kiều Lan được tập cho hát vai đào nhì lẵng, tuồng Tiếng Hát Người Thôn Nữ của soạn giả Tứ Lang. Kiều Lan nhờ sự tận tâm chỉ dạy của hai ông thầy Tứ Lang và Tư Sơn nên thành công ngay trong vai diễn đầu tiên trên sân khấu cải lương.

Sau đó, Kiều Lan còn hát thành công qua các vai Nữ Chúa Mường trong tuồng Trăng Lạnh Xứ Mường, vai Quận Chúa tuồng Ngọn Lửa Thành Tây, vai Liên tuồng Dưới Dàn Hoa Thiên Lý.

Năm 1962, sau hai năm hát vai đào lẵng trên sân khấu Minh Hùng – Hoàng Sương, Kiều Lan được các ký giả kịch trường viết nhiều bài báo khen ngợi, khán giả cũng nhiệt liệt tán thưởng nên đoàn hát Út Bạch Lan – Thành Được mời cô cộng tác với tiền lương cao và tiền contrat hậu hỉ. Lúc đó đoàn hát Út Bạch Lan – Thành Được có các nghệ sĩ Út Bạch Lan, Thành Được, Nam Hùng, Thanh Thanh Hoa, Mỹ Châu, Ba Vân, Bé Hoàng Vân, Tấn Đạt…

Dưới bàn tay đạo diễn của quái kiệt Ba Vân, Tô Kiều Lan rực sáng trong vai Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu, tuồng Khi Rừng Mới Sang Thu. Khi nữ nghệ sĩ Bích Sơn rời đoàn, Kiều Lan thế Bích Sơn đóng vao Công Chúa trong tuồng Khi Hoa Anh Đào Nở. Kiều Lan đã khẳng định được vị trí vững vàng trên một sân khấu đại ban.

Năm 1964, ông bầu Ba Bản mời Kiều Lan về hát trên sân khấu Thủ Đô, ông đặt nghệ danh của cô lại thành Tô Kiều Lan. Đoàn hát Thủ Đô lúc đó gồm có các nghệ sĩ Tấn Tài, Như Ngọc, Trương Ánh Loan, Dũng Thanh Lâm, hề Bảy Xê, Hoài Trúc Phương, Văn Lâu, Minh Quang, Kim Hồng.

Tài danh trong nhiều vai diễn

Nữ nghệ sĩ Tô Kiều Lan đóng vai đào lẵng trong tuồng Mây Bốn Phương Trời. Sau đó cô nổi danh trong vai Thiên Y A Na trong vở Người đẹp Trong Thuyền Trầm và vai Nữ Tướng trong tuồng Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ. Sau khi Tô Kiều Lan rời sân khấu Thủ Đô, nữ nghệ sĩ Kim Hồng đóng thế hai vai tuồng đó và được ông bầu Ba Bản cải nghệ danh lại thành Tô Kim Hồng.

Năm 1965, đoàn hát Thanh Hương – Hùng Minh mời Tô Kiều Lan về cộng tác. Nghệ sĩ của đoàn hát Thanh Hương – Hùng Minh, ngoài cặp đào kép chủ bầu ra còn có các nghệ sĩ như Hữu Huệ( kép độc), Trọng Sĩ, Thành Dô và vợ là Phương Liên, Tám Lắm, hề Vui Tươi.

Tô Kiều Lan đã hát qua các vai: Tần Mỵ Nương tuồng Lệnh xé xác, vai Ngu Cơ tuồng Hạng Võ – Ngu Cơ , vai Phu NHơn tuồng Anh Thợ Hồ Đất Nhật, vai Bạch Hoa tuồng Hắc Bạch Quang Kiếm, vai Cô gái rừng tuồng Ba Trăm Đêm Chia Ly…

Trong dịp Tết 1966, đoàn Thanh Hương – Hùng Minh và đoàn hát Kim Chung cùng hát ở Vũng Tàu. Trong khi đoàn hát Thanh Hương – Hùng Minh có khán giả nghẹt rạp, đoàn hát Kim Chung lại phải trả vé nghĩ hát, ông Bầu Long liền đến xem đoàn Thanh Hương – Hùng Minh hát để nghiên cứu xem tại sao đoàn nầy hát quá ăn khách.

Sau khi xem hát về, bầu Long liền cho người liên lạc mời Tô Kiều Lan ký một giao kèo rất cao giá để về hợp tác với đoàn hát Kim Chung. Ông nói yếu tố ăn khách của đoàn Thanh Hương – Hùng Minh là do đào độc lẵng diễn rất “ nóng sân khấu “, tạo không khí cho đào kép mùi ca thành công, nên nhờ có Tô Kiều Lan làm ngòi nổ giúp cho sân khấu luôn luôn sôi động, vui và có tiếng cười thoải mái mà đoàn Thanh Hương – Hùng Minh thu hút khán giả.

Năm 1967, Tô Kiều Lan ký một giao kèo rất cao để về hát cho công ty Kim Chung. Tô Kiều Lan hát trên sân khấu các đoàn hát Kim Chung, đóng tuồng chung với các nghệ sĩ Diệu Hiền, Minh Cảnh, Út Hậu, Minh Phụng, Thanh Tuấn, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Minh Vương, Hoàng Hạc, Trường Xuân, Tài Bữu Bữu, Phương Bình, Quốc Trầm, Phương Dung, hề Phúc Lai…

Tô Kiều Lan đã hát qua các loại vai đào độc, đào lẵng, đào lẵng độc, đào võ trong các vở tuồng: Thần Thủ Phi Tiêu, Kiệu Hoa Lạc Lối Về, Thuyền Ra Cửa Biển, Thằng điên và Nàng Công Chúa, Kiếm Sĩ Người Dơi, Cho Trọn Cuộc Tình, Nữ Hiệp ặn Mày…

Từ năm 1967 đến năm 1975, nghệ sĩ Tô Kiều Lan hát cho công ty Kim Chung.

Tô Kiều Lan khi thủ diễn những vai đào lẵng độc, cô không diễn như một số đào độc khác với lối diễn hình thức, nghiến răng, hò hét, trợn mắt hoặc võ phu, đánh đập hành hạ người nghèo khò dưới tay mình. Tô Kiều Lan diễn với một phong cách sang trọng, thể hiện đúng tính cách nhân vật, khiến cho khán giả bị cuốn hút vào câu truyện tuồng, đồng cảm với nhân vật bi thương và căm ghét kẻ ác.

Sau năm 1975 đến năm 1990, Tô Kiều Lan gia nhập đoàn hát cải lương Saigon 1, rồi đoàn Saigon 2 và một đoàn hát lớn của thành phố, cô hát chung với các nghệ sĩ Thanh Tuấn, Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Văn Chung, Hồng Nga, Diệp Lang, Tư Rọm, Lệ Thủy, Hoàng Linh, Ngọc Bích, Mỹ Châu, Tài Lương, Giang Châu, Tài Bữu Bữu, Ngân Giang, Tuấn An, Tuấn Kiệt (Châu Thanh), Linh Vương…

Tô Kiều Lan vẫn chuyên thủ diễn những vai đào lẵng độc trong tất cả các tuồng của đoàn hát, được khán giả tán thưởng qua các tuồng Lỡ Bước Sang Ngang, Khi Bình Minh Trở Lại, Dốc Sương Mù, Tiếng Sáo Đêm Trăng, Tiếng Hát Đoạn tình…

Đến năm 1992, Tô Kiều Lan chuyển qua diễn các vai đào lẵng hài, rồi cùng với Phi Thoàn, cô gia nhập các ban tấu hài trên sân khấu kịch. ủ địa hạt sân khấu hài, Tô Kiều Lan vẫn thành công rực rở, cô được các hãng vidéo mời thu tuồng cải lương và các kịch bản hài.

Về gia đình, Tô Kiều Lan sánh duyên cùng họa sĩ Ngọc Tài tên thật là Trương Văn Kinh, người từng cộng tác với các họa sĩ lừng danh của sân khấu cải lương như Thiếu Linh, Nguyễn Quyền, Phan Phan. Cô có được 7 cháu: một gái và ba trai sống ngoài ngành sân khấu: Trương Thị Kim Thu, Trương Phú Quốc,Trương Kim Ngọc, Trương Ngọc Tâm. Một con trai và hai gái theo sân khấu là Trương Kim Nguyên, nhạc sĩ đàn guitare, Trương Thị Bích Thủy tức nữ nghệ sĩ Bích Thủy và Trương Thị Bích Vân, diễn viên cải lương. từng đoạt huy chương bạc hội diễn sân khấu cải lương toàn quốc năm 1990.

Nữ nghệ sĩ Tô Kiều Lan mất ngày 05 tháng 5 năm 2003, tức ngày mùng 5 tháng 4 quý mùi… An táng tại nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp vào ngày 9 tháng 5 năm 2003.

Nghệ sĩ cải lương Linh Huệ: Một giọng ca tuyệt vời sớm bị lãng quên

Với hơi ca khoẻ khoắn, giọng kim cao vút, nghệ thuật luyến láy trữ tình, nghệ sĩ Linh Huệ lại có nhan sắc dịu dàng, nước da trắng mịn, cô ca diễn các vai chánh đều thành công xuất sắc nên khán giả bốn phương rất ái mộ.

Giọng ca khoẻ khoắn và xinh đẹp

Trương Thị Thu Trinh là tên thật của nữ nghệ sĩ Linh Huệ, cô sinh năm 1959 ở Trảng Bàng, Tây Ninh. Song thân cô là ông Trương Văn Sở (59 tuổi) và bà Trịnh Thị Hai (55 tuổi) đều là nhà giáo từng dạy học ở trường Trảng Bàng, Tây Ninh. Bảy em của Linh Huệ, 3 trai, 4 gái hành nghề ngoài ngành sk. Ngày 27/12/1993, nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã làm lễ thành duyên cùng ông Võ Viết Triều, kỹ sư cơ giới ô tô.

Các ông trưởng đoàn hát nghe danh biết tiếng nên liên hệ để mời Linh Huệ về cộng tác với đoàn hát của mình với những điều kiện tài chánh hậu hỉ nhưng nữ nghệ sĩ Linh Huệ chọn đoàn hát Trúc Giang là một đoàn hát trung ban của thành phố để về cộng tác chỉ vì cô muốn theo học hỏi kỹ năng ca diễn của nữ nghệ sĩ Mỹ Châu,thần tượng của cô.

Cô bé với ước mơ nghệ thuật

Từ thuở bé Linh Huệ rất say mê ca hát nên cô quyết đi theo con đường này. Cha mẹ cô đã gởi cô đi theo học lớp tân nhạc với nhạc sĩ Bảo Thu (1973). Sau đó Bảo Thu thường dắt cô đi ca ở các sô và thu tivi. Linh Huệ đã biểu diễn thành công những bài như: Làng tôi, Em bé quê, Ly rượu mừng… Bảo Thu đã từng nói với Linh Huệ “em có giọng ca ténor, hơi tốt, thông minh. Nếu em ráng theo ca nhạc, chắc chắn sẽ thành danh”. Nhưng rồi sau đó Linh Huệ không có dịp theo ca nhạc nữa mà phải về quê tiếp tục học hành. Năm 1976, cô học hết lớp 12 và rồi thi rớt tú tài nên phải nghỉ học với 1 nỗi buồn. May đâu dượng rể của Linh Huệ là ông Ba Đa, trưởng đoàn Văn công tây ninh trong dịp đến thăm gia đình cô, thấy Linh Huệ có giọng ca tốt nên đã khuyên cô nên theo đoàn Văn công TN.

Thế là Linh Huệ học thạo ca tân để rồi đi theo đoàn cải lương. Cô sử dụng cái vốn tân nhạc của mình để ca tài tử suốt 2 năm liền. Để hội nhập với đoàn VCTN, Linh Huệ phải học cổ nhạc. Vì thế cô đã nhờ nhạc sĩ Tám Khích dạy cô ca rành tất cả bài bản ứng dụng cho cải lương. Năm 1978, Linh Huệ được cho hát các vai: Kim Anh (Đời cô lựu), Quận chúa (Chim việt cành nam), Hồ Bảo Xuyên (Đêm lạnh chùa hoang)….cùng với những diễn viên: Lê Phát, Phượng Nhung, Ánh Hồng….Một năm sau (1979), nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã tròn 20 tuổi, cô đã ca hát tương đối vững vàng trên SK đoàn VCTN, chẳng những khán giả biết tiếng cô mà các đoàn hát bạn cũng bắt đầu chú ý đến cô đào tên Linh Huệ, còn trẻ có hơi ca dài, khỏe. Vì thế đoàn Sông bé 1 đã bí mật cử người đến thương lượng mời cô về hát. Linh Huệ bằng lòng và rất vui mừng vì được người trong giới biết đên. Cô về Sông bé 1 hát với Bảo Vương, Văn Sa, Phước Trọng,

Thuý Nga… và nổi danh qua các vai Thuý Kiều (vở Thuý kiều), Kiều Nguyệt Nga (vở Lục vân tiên), và Bùi Thị Xuân (vở Bảy mùa mai nở).

Tuy đã có vị trí tốt ở các đoàn tỉnh, nhưng Linh Huệ cảm thấy cần phải bồi đắp thêm cho nghề nghiệp, mà con đường tốt nhứt là phải về TP Hồ chí minh để học hỏi thêm.

Về Thành Phố rồi thành danh

Năm 1980, khuôn mặt nữ nghệ sĩ mới xuất hiện ở 1 đoàn hát cải lương khiêm nhượng ở thành phố. Đó là Linh Huệ ở đoàn Trúc Giang (Tần Nguyên trưởng đoàn). Cô có dịp hát với những nghệ sĩ ca diễn vững vàng như Tuấn Thanh, Minh Minh Vương, Phương Loan….qua vai Giao (Vòng cưới anh trao), Thoại Khanh (Thoại khanh châu tuấn), Nguyệt Nga (Lục vân tiên). Với 1 đoàn như Trúc Giang, tiết mục biểu diễn hạn chế nên Linh Huệ không có dịp học hỏi, trui rèn qua các vai trò mới, nhất là trong các vở xã hội mà cô có ý muốn học hỏi.

Vì thế 1 năm sau đó, Linh Huệ đã chấp thuận về hát ở SK Sài gòn 3 khi được mời. Quả nhiên Linh Huệ được khẳng định vị trí ở 1 đoàn hát tương đối lớn qua những vai tuồng xã hội Việt nam như Hoàng (Phụng và hoàng), Trà Mi (Hương sắc trà mi), Lan (Hoa phong lan). Ngoài ra Linh Huệ cũng diễn rất sắc nét qua các vai khác như: Sarết (Nàng Sarết), Sao Ly (Tình ca biên giới), Thị Lộ (Hạt bụi và non cao)… và trong giới cũng bắt đầu chú ý Linh Huệ, một khuôn mặt mới có giọng ca dài hơi và ngọt ngào.

Cùng với ê kíp diễn viên trẻ có thực tài và một số diễn viên kinh nghiệm của đoàn Sài gòn 3 như Bảo Linh, Tuấn Thanh, Chí Hải, Vương Ngọc, Dương Thanh, Lan Chi, Văn Chung, Kim Quang, Bảo Chung, nữ nghệ sĩ Linh Huệ chói sáng giữa số đông diễn viên hùng hậu của đoàn Sài gòn 3 lúc bây giờ. Nếu tính từ lúc bắt đầu đứng SK hát cải lương (1978) thì chỉ có 3 năm sau Linh Huệ đã chiếm được vị trí tốt ở đoàn hát, ở TP. Còn nếu tính từ ngày về TP thì chỉ có 1 năm cô đã ở vào vị trí mà diễn viên khác hằng mơ ước.

Đó là cả sự may mắn của cuộc đời đi hát của Linh Huệ để rồi 6 năm sau (1987) cô lại được đoàn Sài gòn 1 mời về hát để cô có dịp trui rèn thêm nghề qua những vở hát khác và thay Thanh Kim Huệ trong nhiều vai (lúc ấy Thanh Điền – Thanh Kim Huệ về đoàn Sài gòn 3) như: Thị Hến (Ngao Sò Ốc Hến), chị ba (Lọ nước thần), An Tư (Công chúa An Tư), Cô gái (Cô gái hát rong), Hoàng Hậu (Vua hóa Hổ), Tiêu (Tiếng hát người yêu),…

Năm 1989, Linh Huệ về đoàn Văn công TP trong 6 tháng hát qua những vở như: Tiếng sáo đêm trăng, Khúc hát đoạn tình, Nợ tình,.… và rồi cô đi đoàn Sông bé 2, 6 tháng cùng hát với nam diễn viên Châu Thanh. Năm 1990 Linh Huệ lại trở về đoàn Sài gòn 3 diễn thành công thêm 2 vở mới loại xã hội là: Con thuyền không bến (vai Nga), Lâu đài trên cát (vai Hiếu).

Trong năm 1991, Linh Huệ lại có dịp cộng tác thêm hai đoàn cải lương của thành phố nữa là đoàn 2-84 hát qua các vở: Gọi tên tình yêu, Chuyện tình hai thế hệ, Tiếng chuông thiên mụ, và đoàn Trần Hữu Trang 1 qua các vở: Lan huệ sầu ai, Bóng hồng sa mạc, Võ tòng sát tẩu.

Sau 11 năm hát ở TP, Linh Huệ đã hát qua 6 đoàn hát cải lương: Trúc giang, Sài gòn 3, Sài gòn 1, Văn công TP, 2-84, Trần hữu trang 1 qua gần 40 vai khác nhau của đủ loại tuồng đã hình thành độ dài kinh nghiệm của 1 diễn viên SK cải lương. Nhưng người ta thấy nữ nghệ sĩ Linh Huệ….

Vẫn Mãi tìm một con đường

Từ tháng 10 năm 1992, nữ nghệ sĩ Linh Huệ đột nhiên về cộng tác với đoàn cải lương Tây đô (Cần Thơ). Sự có mặt của Linh Huệ đã củng cố vững chắc đoàn Tây đô lúc bấy giờ với thành phần nghệ sĩ trẻ: Vương Thái, Vương Vũ, Vương Kiệt, Thanh tâm, Kiều Mỹ Dung, Ngân Thủy….

Trong 2 năm đoàn Tây đô đã khá vững mạnh trên đường lưu diễn ở các tỉnh miền tây, và danh tiếng của Linh Huệ cũng nổi lên ở miền tây. Trước đây cô đã từng hát ở các tỉnh miền đông rồi về thành phố, rồi lại đi hát ở miền tây, có phải Linh Huệ đi tìm khán giả ái mộ ở một vùng khác? Nếu vậy, Linh Huệ còn được một số khán giả ở vùng khác (miền bắc) ái mộ khi cô cùng với đoàn Tây đô đi ra Hà nội biểu diễn phục vụ quốc hội khóa 9 (1993) và được bằng khen. Dư luận khán giả và báo chí ở miền bắc đã tỏ ra có cảm tình với nữ diễn viên Linh Huệ của đoàn Tây đô.

Dù đi lưu diễn xa, giọng ca của Linh Huệ vẫn được các hãng băng ở thành phố chú ý nên cô thường xuyên được mời về thu băng. Cô đã thu trên 100 băng Audio và mấy mươi vở Video. Khán thính giả quốc nội, quốc ngoại hẳn đã biết qua những băng Audio: Nguyệt Hổ Vương, Cổ xe độc mã, Ma Nữ Truy Hồn, Phấn hương đoạt nhãn, Lệnh tử thần, Lưu Kim Đính, Tuyết kha, Lệnh truy nã, Hoa chùm gởi, Hàn tín Lã hậu, Ai cho tôi tình yêu,Tthanh xà Bạch xà, Sông dài, Yêu người điên, Gánh cỏ sông hàn, Hàn Mạc Tử,Ttrương chi Mỵ nương, Ngàn năm vẫn đợi, Đào hoa khách, Ba giai tú xuất, Công chúa cá vàng,Nữ Độc Thủ Cô Đơn, Độc Thủ Đại Hiệp, Khi Mặt Trời Tắt Nắng,Lỡ Bản Tình ca, Đứa con rơi, Vị Đắng 1 Cuộc Tình, Sương Mù Che Lối Em, Phận gái thuyền quyên, Vụ Án Đêm Noel, Bạn rừng năm cũ, … băng video có: San hậu, Hồn trương ba da hàng thịt, Chung vô diệm, Con cò trắng, Thach sanh Lý thông, Đời cô Hạnh, Con thuyền không bến, Má hồng soi kiếm bạc, Quân Vương và Thiếp, Trễ Đò….

Con đường đi tìm khán giả của Linh Huệ, nếu có, thì có lẽ cô đã được phần nào mãn nguyện với số lượng khán giả đáng kể ở thành phố, miền bắc, và các tỉnh miền trung, miền đông, miền tây, kể cả những khán thính giả ở quốc ngoại. Tuy nhiên dường như đó chẳng phải là con đường mà Linh Huệ đang tìm. Đi lưu diễn xa, bao giờ Linh Huệ cũng theo dõi các hoạt động cải lương ở thành phố với một nỗi niềm riêng. Có phải cô đang bận tâm về một con đường nào đó làm cô khổ tâm trong những năm qua? Linh Huệ đã 5 lần được độc giả Báo SKTP bầu chọn: Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất (1990), Diễn viên được yêu thích nhất năm 1990, Diễn viên dự giải THT được yêu thích nhất qua 3 năm liền: 1991, 1992, 1993. Nhưng chiếc Huy chương vàng của giải THT hai năm đầu đã xa tầm tay của cô là sự đớn đau lớn. Dù vậy mỗi lần được giải, trong các buổi lễ phát giải của Báo SKTP, dù cô đang hát ở tận phương nào cũng về thành phố lãnh giải, tham gia tiết mục biểu diễn và bao giờ cô cũng là người đầu tiên có mặt trong buổi lễ với hóa trang và trang phục biểu diễn sẵn sàng.

Kể từ ngày mới bắt đầu học ca cổ nhạc nơi đoàn hát Tây Ninh của ông Bầu Ba Đa cuối năm 1976 đến năm 1981, chỉ mới 5 năm năm mà nữ nghệ sĩ Linh Huệ, một cô gái mới học cổ nhạc đã đạt được vị trí diễn viên đào chánh của một đại ban cải lương trong thành phố, điều đó chứng tỏ Linh Huệ có một sự cố gắng phi thường và có một giọng ca trong trẻo, một lối ca điêu luyện hiếm có.

Đây cũng là nhờ ở một sự may mắn, vì nhu cầu của đoàn hát, vì cần thay thế một diễn viên chánh, một giọng hát ăn khách vừa rời đoàn hát mà Linh Huệ được mời về để thế vai. Lối diễn, giọng ca và nhan sắc của Linh Huệ giúp cho cô đóng thế vai các diễn viên thượng thặng một cách dễ dàng và thành công trọn vẹn.

Khu rừng không biên giới

Được tin mình đoạt Huy chương vàng giải THT năm 1993, nữ nghệ sĩ Linh Huệ không giấu được nỗi vui mừng và sự xúc động. Sau 15 năm đứng hát ở sân khấu, khổ cực và vinh quang cô đã trải qua nhiều rồi. Linh Huệ thành thật cho biết rằng, trong đời cô không vinh quang nào bằng vinh quang đoạt giải THT khẳng định một bậc thang nghề nghiệp, và cũng không có sự khổ cực nào bằng sự khổ cực đợi chờ được bước lên nấc thang nghề nghiệp đó.

Sau một thời gian dài trên bước đi hành nghề ở sân khấu, nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã tạo dựng sự nghiệp cho riêng mình bằng mồ hôi và nước mắt, bằng chính sự phấn đấu nghệ thuật không ngơi nghỉ. Khi đã tạo dựng sự nghiệp sân khấu bằng dấu ấn trong lòng khán giả và người trong giới rồi, đó phải chăng là tìm đúng và có được con đường trong bước đi nghệ thuật trong tương lai hay không? Linh Huệ đã cho biết rằng nếu nói “Con đường tự tìm đường đi, đi riết thành ra con đường” thì cô đã làm chuyện đó trong nhiều năm qua rồi, trải qua nhiều con đường hẹp, rộng, ngắn, dài, khó đi hoặc dễ đi và chiếc Huy chương vàng giải THT đối với cô quả là con đường mới mà cô được ban tặng, thênh thang và dễ dàng tiến bước nghệ thuật.

Nhưng cô lại tự nghĩ, con đường nào – khó đi hay dễ đi – đối với 1 nghệ sĩ cũng đều là những con đường trong khu rừng nghệ thuật không bao giờ có lối ra, không bao giờ có biên giới. Vừa thoát khỏi khu rừng này đã có khu rừng khác lớn hơn mà kẻ lữ hành là người nghệ sĩ luôn luôn phải đột phá tiến lên chớ không phải ngồi yên trên đoạn đường trải thảm. Ta khóc hay cười, buồn vui, vinh quang hay thảm bại, hạnh phúc hay đau khổ, giàu sang hay nghèo khó cũng chỉ có ta và khu rừng nghệ thuật mà ta phải sống với nó với những hoàn cảnh khác nhau và sự phấn đấu của bản thân ta chớ không có cách khác. Còn nếu như ta ngồi yên, thì quả tình đây cũng là một con đường mới: Con đường rút lui khỏi vườn hoa nghệ thuật…

Nữ nghệ sĩ Linh Huệ và danh ca Thanh Kim Huệ

Nghệ sĩ Linh Huệ, một giọng ca có âm sắc trong trẻo, vút cao, hơi giọng với giọng ca của danh ca Thanh Kim Huệ. Về sắc vóc, Linh Huệ cũng có phần giống Thanh Kim Huệ, tựa như chị em song sinh.

Trong 12 năm theo nghề hát, Linh Huệ đã thay đổi qua 9 đoàn hát : Tây Ninh, Sông Bé 1, Trúc Giang, Saigon 3, Saigon 1, Văn Công, 2/84, Trần Hữu Trang 1, Tây Đô, đã hát qua hơn 40 vai trò khác nhau của đủ các loại tuồng, thay đổi quá nhiều đoàn hát, Cô thấy thuận lợi hay bất lợi cho nghề hát của cô?

Theo Linh Huệ  chia sẽ thì thay đổi sân khấu là tìm con đường đi lên để phát triển nghề nghiệp, vì đến một đoàn mới mình phải cố gắng nhiều hơn, đồng thời được học hỏi thêm nhờ diễn chung với những bạn diễn mới. Khi đoàn mới cần mình thế vai chánh đã ra đi, mình hát thành công, giữ được khán giả cho đoàn, điều đó chứng tỏ mình có tiến bộ về nghệ thuật.

Năm 1990, được bình chọn là danh ca vọng cổ được ưa thích nhất trong năm.

Năm 1993, cô được tặng thưởng huy chương vàng giải Trần Hữu Trang. Cũng trong năm nầy cô Linh Huệ kết hôn với anh Võ Viết Triều, kỷ sư cơ khí ô tô.

Sau một thời gian dài, cô Linh Huệ đã tạo dựng sự nghiệp sân khấu của mình bằng mồ hôi và nước mắt, với một sự phấn đấu kiên cường không biết mệt mõi để đạt được những vinh quang nghề nghiệp. Nhưng rồi tình hình sân khấu cải lương xuống dốc, mất dần khán giả đến độ quá nhiều đoàn hát phải tan rã, không còn rạp hát để hát. Nghệ sĩ cải lương phải chuyển qua tấu hài và hát trích đoạn cải lương,

Sau khi đoạt HCV Trần Hữu trang năm 1993, cô đã theo chồng xa rời Sân khấu. Khán giả yêu thích cô luôn giữ mãi những hình ảnh đẹp về cô, những vai diễn, những bài hát như lưu giữ những kỉ niệm đẹp về một miền kí ức. Nghĩ về cô, khán giả chỉ mong là được xem cô diễn trên sân khấu, nhưng điều mong muốn đó biết có được không hay sẽ mãi là mơ ước.

Bởi vì chúng tôi được tin nữ nghệ sĩ Linh Huệ đã đi định cư tại Toronto Canada. Tiếc rằng tôi chỉ biết tin Linh Huệ qua một nghệ sĩ cải lương ở Toronto mà chưa có gặp trực tiếp Linh Huệ để hiểu rõ cuộc sống gia đình và cuộc đời hoạt động nghệ thuật của Linh Huệ hiện nay ra sao.

Tuy nhiên một điều thật tế cho thấy giọng ca vọng cổ tuyệt vời của nữ nghệ sĩ Linh Huệ bị mai một, bị lảng quên dần vì ở Canada không có môi trường thuận tiện cho nghệ thuật hát cải lương.