Đời nghệ sĩ “Ăn cơm tổ” – Nghệ sĩ Hữu Thoại : nghề пày bạc lắm

0
113

Nghệ sĩ Hữu Thoại (1911-1976) là nghệ sĩ hát bội vang danh một thuở với những tên tuổi như Minh Tơ, Thành Tôn, Ba Út, Năm Ðồ, Khánh Hồng, Huỳnh Mai…

Sinh thời, NSND Thành Tôn từng nói: “Trong nghề này tôi không ngán một ai, chỉ nể anh Hai Thoại”.

uXCr83e6.jpgNghệ sĩ Hữu Thoại

Nghệ sĩ Hữu Thoại (1911-1976) là nghệ sĩ hát bội vang danh một thuở với những tên tuổi như Minh Tơ, Thành Tôn, Ba Út, Năm Đồ, Khánh Hồng, Huỳnh Mai… Sinh thời, NSND Thành Tôn từng nói: “Trong nghề này tôi không ngán một ai, chỉ nể anh Hai Thoại”.

Không những là nghệ sĩ nổi danh, NS Hữu Thoại còn là giảng viên hát bội Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn từ 1960-1975. Khi cải lương phát triển mạnh vào những năm 1960 làm hát bội thất thế, ông cùng tham gia Hội Khuyến lệ cổ ca nhằm phục hưng hát bội. Cha của NS Hữu Thoại là bầu Huê (Cần Thơ). Các con ông là NSƯT Hữu Danh, NS Hữu Nhi, Kim Nên… đều là nghệ sĩ của Nhà hát Nghệ thuật hát bội TP.HCM, thuộc thế hệ thứ ba.

z2SGMTap.jpgTừ trái qua: NS Hữu Thoại, nhạc sĩ Sáu Vững và NS Thành Tôn – ba nhân vật lãnh đạo Ban hát bội Vân Hạc (1947-1975) – Ảnh tư liệu của NSND Đinh Bằng Phi

Kiếp ăn đình ngủ ghe

“Ông nội tôi là kép chính, rồi ba tôi cũng là kép chính. Ba tôi kể có lúc ba tôi hát hay hơn, ông nội tôi cũng ganh tị, đòi lại vai…”, NSƯT Hữu Danh bắt đầu nhớ về ba anh như vậy.

Trong ký ức của NSƯT Hữu Danh – người có ông nội và bà cô ruột đều là bầu gánh – thì gánh hát xưa là những người mang kiếp ăn đình ngủ ghe, rày đây mai đó. Khi đi diễn họ thác đâu chôn đó, không tính đến chuyện nhà cửa. Còn khoản ăn chơi hưởng lạc thì họ cũng… “tứ đổ tường”. Hữu Danh kể anh nhớ rất rõ những con thằn lằn trên trần nhà chỗ đặt bàn đèn. Mỗi ngày đúng giờ như boong, những con thằn lằn lại bò ra nằm chờ khói thuốc. Con nào con nấy trắng núc ních.

Trong xã hội xưa, người nghệ sĩ bị xem là “con đào”, “thằng kép”, xướng ca vô loài. Nhưng về nghề, về tổ thì họ rất nghiêm túc. Mỗi năm, đúng vào ngày giỗ tổ, dù đang ở chân trời góc bể nào họ cũng tụ hội về bên bàn thờ tổ, không thiếu một ai.

Người nào theo gánh hát thì ngày làm việc quần quật, tối ngủ dướt đất lạnh không có mền, phải kéo tấm bạt sân khấu đầy bụi đất làm mền. Nếu là con nhà nghệ sĩ thì còn hi vọng chút nâng đỡ, còn không thân thế thì phải hầu hạ, đấm bóp, cơm dâng nước rót… cho thầy mới hi vọng được truyền chút nghề. Có người theo gánh một hai năm được giao cho chút vai lính lệ, đứa ở… đã vui mừng muốn khóc. Hãy nghe tâm sự của NS Năm Lượm khi được giao một vai chính: “Tôi mừng mà nước mắt chảy ròng ròng cứ làm trôi phấn hoài. Tim đập liên hồi, tay run lẩy bẩy… Tới chừng mặc giáp lịnh vào cứ mắc… đi tiểu muốn chết!” (trích Nhìn về sân khấu hát bội Nam bộ, NSND Đinh Bằng Phi). Tình huống thì oái oăm nhưng cái thiêng liêng về nghề thì ai cũng hiểu!

Nhưng điều mà NSƯT Hữu Danh nhớ nhất là ký ức đánh nhau mà ba anh kể lại. Xưa đi hát, gánh hát hay gặp lưu manh du đãng, cường hào ác bá nên Hữu Danh quả quyết: “Cứ ba bữa hát là một bữa đánh lộn”. Trong kiếm, mác đạo cụ của đoàn lúc nào cũng thủ sẵn hai cây giáo thật, hai cây mã tấu thật phòng khi “hữu sự” như vậy.

Một lần gánh hát của ba anh bị chặn trên một cây cầu, một “giang hồ hảo hớn” phanh áo chỉ mâm heo quay bên cạnh nói nếu đánh bại hắn thì được con heo quay, còn nếu thua thì quay đầu đừng hòng vô xã hát. Lúc đó, trong đoàn nhiều người đã xanh mặt! Kép chánh Hữu Thoại nhảy xuống quần với tay anh chị này một hồi, hất được hắn xuống sông thì đoàn mới được “thông quan”.

Trận ác liệt nhất là khi đoàn đang hát ở Vĩnh Long, đám thanh niên địa phương đâm chết người soát vé rồi xông vô đòi phá tan gánh hát. NS Hữu Thoại và người trong đoàn rút gươm giáo chống đỡ. Cuộc chiến “lưỡng bại câu thương”. Sau trận kinh hoàng đó, anh kép Hữu Thoại trốn lên Sài Gòn lập nghiệp, tránh sự truy bức của đám thanh niên địa phương lẫn nhà chức trách.

HMICXF1u.jpgCon trai của nghệ sĩ Hữu Thoại – NSƯT Hữu Danh (trái) trong vở Thần nữ dâng ngũ linh kỳ – Ảnh: H.D.

Nghệ thuật giờ khó quá!

Hữu Danh kể hồi còn sống ba anh dặn: “Con đừng theo nghề này, bạc lắm!”. Khi NS Hữu Thoại qua đời (1976), có người đồng môn của ông tới nhà thấy gia đình Hữu Danh phải ăn khoai lang chống đói nên đưa anh em Hữu Danh vô khoa hát bội Trường Sân khấu và điện ảnh TP.HCM. Hữu Danh nhớ tiêu chuẩn bao cấp cho sinh viên hồi đó là: kịch nói cấp 16kg gạo/tháng, cải lương cấp 18kg gạo/tháng, hát bội (vì ứ ự à a… tốn sức nhiều hơn) nên được ưu ái 21kg gạo/tháng với hai hộp sữa, 2kg đường. Tiêu chuẩn này đã cứu đói gia đình anh.

Hồi đó khó khăn, bà cô ruột anh trước năm 1975 là bầu gánh hát, hột xoàn đeo 10 ngón tay mà cũng hết.

Trong giới, NS Hữu Thoại và NS Thành Tôn là người có chữ nghĩa nên soạn nhiều tích tuồng. Khi ông chết, kịch bản chất đầy một tủ. NS Hữu Danh kể mẹ anh là người gốc Cần Giờ (TP.HCM), ra chợ bán cá nuôi con. Thời hậu chiến bao cấp thiếu thốn đủ điều, bán cá mà còn thiếu đồ gói cá, bà lanh trí nhớ đến… cái tủ kịch bản của chồng!

Khi anh em Hữu Danh ra trường thì cái tủ kịch bản của NS Hữu Thoại cũng hết. Bây giờ, đã hơn 30 năm trong nghề từ biểu diễn, viết kịch bản, đạo diễn, nghiên cứu…, NSƯT Hữu Danh nói mỗi lần nhớ lại cái tủ kịch bản đó anh lại chắc lưỡi ngơ ngẩn: “Tiếc, nhưng cũng không biết làm sao”!

Khi hỏi con anh có ai nối dõi cha, ông nội không, Hữu Danh lắc đầu: “Không, con tôi không đứa nào theo hát bội nữa. Nó còn không quan tâm hát bội là gì!”. Khi hỏi anh có tin vô tương lai hát bội không, Hữu Danh suy nghĩ rồi… lắc đầu! Trung thực và sòng phẳng.

Hữu Danh nói: “Nghệ thuật bây giờ khó quá!”.

“Thu nhập của nghệ sĩ hát bội bây giờ bình quân 2,5 triệu đồng/ tháng. Anh em khó khăn, nhưng rồi quen tính cần kiệm. Phần tôi cộng tiền đạo diễn, tác giả… được khoảng 6 triệu đồng/tháng. Tính ra tiêu xài 200.000 đồng/ngày thì cũng đủ!”.

Giữa đất Sài Gòn, người nghệ sĩ hát bội nhẩm bài toán sinh kế như vậy đó!

Hát bội Nam bộ gắn liền văn hóa tâm linh

“Nghề này buồn mà đam mê. Trên sân khấu thì đam mê, quên hết, nhưng khi nhận tiền công thì… buồn. Được khách nước ngoài hỏi han mình lại thấy tự hào về nghệ thuật dân tộc. Chắc vì vậy mà… sống được!” – cái “mâu thuẫn hai mặt đối lập” của hát bội hôm nay được NSƯT Ngọc Nga, phó giám đốc Nhà hát Nghệ thuật hát bội TP.HCM, tâm sự như vậy.

Bình quân mỗi nghệ sĩ nhà hát của chị lương tháng khoảng 2,5 triệu đồng. Đi diễn thì thù lao kép chính độ 150.000 đồng/suất, kép phụ cỡ 100.000 đồng, nhạc công vài chục ngàn. NS Ngọc Nga nói: “Lương anh em bằng công nhân trong khu chế xuất thôi. Còn lại anh em phải kiếm sống bằng nghề tay trái!”.

NS Ngọc Nga cho biết từ nhiều năm nay hát bội không thể diễn bán vé. NS Hữu Lập, 56 tuổi nghề ở đoàn Minh Sen (Vũng Tàu), kể: “Bây giờ lễ hội người ta cũng đòi mời nghệ sĩ tài danh (nghệ sĩ cải lương nổi tiếng). Họ hát một tiếng thù lao mười mấy triệu, bằng tôi đi hát hơn nửa năm. Hết cải lương là họ rút đi hết, còn lại lơ thơ vài người già xem hát bội. Mà trời ơi, khán giả xem hát bội nhìn rúm ró, khép nép như sở thích của họ có gì… xấu hổ lắm vậy!”.

Hát bội Nam bộ phát triển mạnh nhất thời Tả quân Lê Văn Duyệt ở thành Gia Định (khoảng 1812-1832). Sau năm 1975, hát bội có thời kỳ hoàng kim khoảng 10 năm nữa. Người ta đúc kết rằng hát bội chỉ phát triển khi nó “độc quyền”, không có môn nghệ thuật cạnh tranh.

Cả NS Hữu Danh, Hữu Lập, Ngọc Nga đều nói rằng con cái họ chia sẻ nhưng không muốn theo hát bội như cha mẹ. Họ đã chứng kiến quá nhiều cái khổ của cha mẹ!

Dù hết khán giả, mỗi năm Sở VH-TT&DL TP.HCM ra chỉ tiêu kiếm 500 triệu đồng thì Nhà hát Nghệ thuật hát bội TP.HCM đều thu đủ. NSƯT Ngọc Nga cho biết tiền mà đoàn kiếm được là nhờ diễn hợp đồng cho các lễ hội kỳ yên của Nam bộ. Mỗi khi đến lễ hội, những hội đình đứng ra mời đoàn hát bội về làm lễ xây chầu (nghi thức nhạc, bái), lễ đại bội (nghi thức thiên lôi mở cửa trời, thái cực sinh lưỡng nghi, chúc thánh Phúc Lộc Thọ…). Nghi thức này là không thể thiếu. Hát bội bây giờ gắn liền với văn hóa tâm linh dân gian.

NSƯT Thành Lộc kể chuyện về cha

 NSND Thành Tôn (1917-1997) là một tên tuổi lớn của sân khấu hát bội. Trong ký ức của NSƯT Thành Lộc, hình ảnh cha anh luôn toát lên một nhân cách khẳng khái, trượng nghĩa, lúc nào cũng sống chết với nghề.

LTS: Nghệ sĩ sân khấu hay gọi nôm na nghề mình là nghề “ăn cơm tổ”. Sân khấu Việt Nam – nhất là sân khấu Nam bộ – có những dòng tộc đã ăn cơm tổ hơn ba bốn đời, từ sân khấu tuồng, cải lương đến kịch nói. Trải qua những lúc thăng trầm thịnh suy của nghề, gặt hái nhiều vinh quang và có cả cay đắng… họ vừa là nhân chứng, vừa viết nên tính độc đáo và truyền thống lâu đời của sân khấu Việt gần một thế kỷ qua.

fKLaK0At.jpg
Những người con của NSND Thành Tôn đều thành danh trên sân khấu. Trong ảnh: nghệ sĩ Bạch Lê và NSƯT Thành Lộc trong vở cải lương tuồng cổ thuộc hàng kinh điển: Câu thơ yên ngựa – Ảnh: Hòa Bình

Ba tôi vốn xuất thân từ đất Vĩnh Long, ông cố là Nguyễn Văn Sĩ, ông nội là Nguyễn Văn Luông, thân phụ là Nguyễn Văn Nở (bầu Nở) đều là nghệ sĩ hát bội. Tính ra ba tôi là đời hát bội thứ tư. Những người con của ông sau này như tôi (NSƯT Thành Lộc), Bạch Long, Bạch Lê, Bạch Lý… đều là nghệ sĩ thành danh ở lĩnh vực khác.

Tuy là con nhà nòi nhưng ba tôi cho rằng mình cũng không thoát khỏi cái mác kép hát tỉnh lẻ. Ông muốn mình phải nổi danh ở thành phố lớn. Vì vậy, ông quyết khăn gói lên Sài Gòn lập nghiệp.

Kép tỉnh giữa Sài Gòn

Lên Sài Gòn, ông gia nhập gánh Minh Tơ của bầu Thắng, là ông ngoại tôi sau này. Trong đoàn, cậu tôi là Khánh Hồng (nghệ sĩ hồ quảng) thích ba tôi, nhưng ông cậu còn lại là Minh Tơ (nghệ sĩ hát bội, cha của NSND cải lương Thanh Tòng) thì… chưa thích lắm! Tuy nhiên, về mặt nghề nghiệp thì cậu tôi vẫn phải nể vì ba tôi.

Hồi đó, gánh hát lục tỉnh luôn phải chạm mặt du côn, cường hào ác bá nên ba tôi quyết học võ. Ông còn nói nghệ sĩ Sài Gòn kiêu kỳ lắm, ông thì thân cô thế cô, thế nên việc đầu tiên là ông giắt cây… mã tấu theo, phòng khi bị bắt nạt.

“Ba là người miền Tây lục tỉnh mà để nổi tiếng khắp miền Nam thì cực lắm con ơi! Mình muốn học người ta cũng không cho, người ta giấu nghề” – ba tôi có nói như vậy. Về sau ba tôi không giấu nghề. Ông nói nghề hát bội từ đời này sang đời khác vốn đã rơi rớt, mai một ít nhiều, nếu giấu nghề thì nó sẽ mai một luôn. Mà ngày trước ba tôi học là đứng sau cánh gà, học lỏm cái hay của người khác rồi về nhà tập.

Ba nói trong hát bội, hát văn khó hơn hát võ. Hát võ thì có múa võ để khán giả coi. Còn hát văn sao cho người ta rớt nước mắt mà không… bị buồn ngủ mới là khó nhất!

Hồi đó, cả nhà tôi sống bên cánh gà đình Cầu Quan (nay là góc Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão, TP.HCM). Ba tôi tập tuồng ở dưới, nhưng thỉnh thoảng ông đáo lên gác xem anh em tôi có học bài hay không. Đứa nào nghe trống tập tuồng không lo học là bị ông đánh. Sau này, khoảng những năm 1970, khi chị Bạch Lê nổi tiếng là “hồ quảng chi bảo” đi hát có tiền thì chúng tôi mới ra nhà riêng.

Ba tôi thuộc làu sử ta, sử Tàu nhưng cũng chịu ảnh hưởng của Tây. Chắc cái này ông bị ảnh hưởng bên nhà ngoại tôi, bởi nhà ngoại tôi có nhiều người học trường Tây. Thường ông thích chơi Vespa, diện đồ vest. Có lần ông chạy Vespa hộ tống đoàn đua xe đạp ra tận vĩ tuyến 17.

Hồi đó, nhà có khó khăn gì ông cũng không cho con cái thất học. Con cái có muốn theo nghệ thuật hay không ông cũng không ép uổng hay ngăn cản. Ông chỉ nói: “Đã làm nghệ sĩ là phải nghệ sĩ giỏi, không được nghệ sĩ trung bình”.

7OoeCk7X.jpg

Đường siêu cuối cùng

Tính ba tôi ngang ngạnh, nổi tiếng là người hay bênh nghệ sĩ. Hễ nghe có tin nghệ sĩ bị đánh hay hiếp đáp ở đâu là dù đang ngủ ông cũng bật dậy, quơ cây mã tấu chạy tới liền.

Trong đoàn, ông cũng có tiếng là ngang tàng, hay bênh kẻ yếu, người thế cô. Các ông bầu nể ba tôi vì tài nên cũng không muốn “làm căng” với ông, còn những người yếu thì nể ông vì đã bênh vực họ!

Ba tôi còn kể ông đòi đánh nhau với cả… quỷ! Chuyện này thì có tính tâm linh một chút. Hồi xưa, gánh hát thường đi sâu vô những nơi heo hút. Gặp nơi chướng khí, nội bộ xào xáo, diễn viên diễn trên sân khấu bị tai nạn trọng thương, hoặc tối người trong đoàn ngủ không được… là người ta tin bị ma quỷ phá. Ba tôi tức lắm. Nửa đêm ông cầm mã tấu, thắp một nắm nhang lớn đỏ rực giữa sân khấu rồi thách ma quỷ có giỏi thì hiện lên… ăn thua đủ!

Ba tôi dạy tôi: “Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh trên sân khấu. Tổ nghiệp phù hộ con hay không là lúc đứng trên sân khấu. Nếu con đứng trong bóng tối mà khán giả vẫn nhớ tới con thì còn hơn là người đứng ngoài ánh sáng mà ít ai nhớ tới. Như vậy là con thành công rồi”.

Ba tôi nổi tiếng với những vai Châu Sáng, Triệu Tử Long, Lý Bá Huề, Lôi Nhược, Trình Giảo Kim… Những ngày cuối đời, ông bị chứng teo não nằm trong bệnh viện. Chị Kim Thanh (nghệ sĩ hát bội) đến thăm có nói: “Sư phụ ơi, cứu con với. Người ta giao cho con vai Châu Sáng mà con e mình đảm đương không nổi”. Chỉ vậy thôi mà ông bật dậy, đi bài siêu Châu Sáng dạy cho chị Kim Thanh liền. Chị Kim Thanh vừa lĩnh hội đường siêu vừa rớt nước mắt.

Hơn tuần sau là ba tôi mất!

Bà Hai Gà ở đình Cầu Quan

Sinh thời, NSND Thành Tôn từng nói: “Tam cang, ngũ thường, tứ đức… của người xưa được chúng tôi thể hiện hằng ngày trên sân khấu.Thiện ác rạch ròi, nên nghệ sĩ chúng tôi ít nhiều bị ảnh hưởng”. Ngẫm về cuộc đời ông hay các nghệ sĩ hát bội khác thì quả có như vậy!

Sinh thời, NSND Thành Tôn và nghệ sĩ Hữu Thoại rất coi trọng nhau. NSƯT Thành Lộc nhớ lại mỗi khi gặp nghệ sĩ Hữu Thoại là ba anh bắt phải kính cẩn cúi chào. Còn NSƯT Hữu Danh từng được NSND Thành Tôn truyền nghề thì nhắc: “Bác Thành Tôn hay nói: Trong nghề này tôi không ngán một ai, chỉ nể anh Hai Thoại (nghệ sĩ Hữu Thoại)”.

NSƯT Hữu Danh kể lại khi anh còn là sinh viên, khoảng năm 1981, một hôm nghệ sĩ Thành Tôn đến gặp anh và người anh là Hữu Nhi (nay là phó giám đốc Nhà hát Nghệ thuật hát bội TP.HCM) nói: “Hai đứa bay ăn mặc chỉnh tề rồi đi theo bác. Có chuyện!”.

Ông đưa hai anh em Hữu Danh, Hữu Nhi đến một ngôi nhà ở gần đình Cầu Quan (góc Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão, TP.HCM). Ở đó có một người đàn bà đang nằm thoi thóp những ngày cuối đời cô đơn trên giường bệnh.

Người đàn bà này anh không nhớ rõ tên gì, chỉ hay gọi là cô Hai Gà. Thời thuộc Pháp bà làm nghề tú bà ở khu vực đình Cầu Quan. Khi nghệ sĩ Hữu Thoại từ tỉnh phiêu bạt lên Sài Gòn, hai người có thời gian ăn ở như vợ chồng. Được ba năm, bà biết mình không thể có con nên mới giục Hai Thoại đi lấy vợ. Trong lúc Hai Thoại vì còn tình nghĩa nấn ná thì bà nói: “Anh Hai à, anh là người có tài. Anh phải có vợ để có người nối dõi”.

Mẹ của nghệ sĩ Hữu Danh là người gốc Cần Giờ (TP.HCM). Hồi trẻ, bà tham gia chống Tây nên bị Tây bắt, treo ngược lên cây rồi đổ nước mắm vô mũi tra tấn, tưởng chết. Nửa đêm, cha bà lén bò ra bãi xác kiếm xác con, nghe bà thở thoi thóp mới biết bà còn sống. Sau vụ đó bà bỏ lên Sài Gòn làm thợ may, rồi quen nghệ sĩ Hữu Thoại. Chính bà Hai Gà đem tiền đi hỏi bà cho Hữu Thoại.

NSƯT Hữu Danh kể cha anh không bao giờ nhắc chuyện đó có lẽ vì nể má anh. Nếu không có NSND Thành Tôn dẫn đến nhà người đàn bà trên thì anh em của anh cũng không bao giờ biết chuyện.

Khi gặp người đàn bà trên giường bệnh, nghệ sĩ Thành Tôn gọi: “Chị Hai à, con của Hai Thoại nè. Không có chị thì không có tụi nó”. Người đàn bà yếu ớt gượng ngồi dậy, run run mừng tủi: “Con của Hai Thoại đây sao?”.

Chuyện nhơn nghĩa người xưa kể ra như tuồng tích, như kịch, nhưng là chuyện có thật!